Bỏ qua để tới nội dung chính

Fibonacci thoái lui: thang mức trượt theo điểm đặt neo

Fibonacci thoái lui chia nhịp giá thành các mức, nhưng đổi chỗ đặt neo là hai mức 61,8% lệch nhau 3,5 điểm. Nhịp dưới 33,5% thì vùng vàng hẹp hơn một phiên trần.

Ban Biên Tập Học Đầu Tư4 phút đọc
Cùng một nhịp tăng bằng nến, hai thang mức Fibonacci vẽ cạnh nhau, một neo ở bóng nến một neo ở giá đóng cửa, kèm dòng chữ hai mức 61,8% cách nhau 3,5
Cùng một nhịp tăng bằng nến, hai thang mức Fibonacci vẽ cạnh nhau, một neo ở bóng nến một neo ở giá đóng cửa, kèm dòng chữ hai mức 61,8% cách nhau 3,5

Bài trước dừng ở Ichimoku, nơi đám mây phía trước hoá ra tính từ giá đã qua. Fibonacci thoái lui cũng lấy một nhịp giá đã qua rồi chia thành các mức phần trăm. Điểm đáng chú ý là các mức này không hoàn toàn cố định. Bài thuộc tuyến chỉ báo kỹ thuật.

Fibonacci thoái lui là gì?

Fibonacci thoái lui là công cụ kẻ các đường ngang trên đồ thị, chia một nhịp tăng hoặc giảm đã xảy ra thành các tỷ lệ phần trăm. Mỗi đường đánh dấu một mức giá mà thị trường có thể lùi về khi điều chỉnh.

Để vẽ Fibonacci thoái lui, người dùng chọn hai điểm: đáy và đỉnh của nhịp giá.

Các tỷ lệ chia phổ biến gồm 23,6%, 38,2%, 50%, 61,8% và 78,6%.

Một nhịp tăng bằng nến rồi điều chỉnh, kẻ ngang năm mức thoái lui 23,6%, 38,2%, 50%, 61,8% và 78,6% giữa neo đáy và neo đỉnh, vùng 38,2% tới 61,8% được tô màu
Mỗi mức là đỉnh trừ đi một phần của nhịp tăng

Các tỷ lệ 23,6%, 38,2% và 61,8% liên quan đến dãy Fibonacci do Leonardo Pisano, nhà toán học thành Pisa sống từ 1170 đến 1250, đưa vào phương Tây: 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34.

Mỗi số bằng tổng hai số liền trước. Khi lấy một số chia cho số kế tiếp, kết quả tiến dần về 0,618. Chia cho số cách hai vị trí, kết quả tiến về 0,382; cách ba vị trí là 0,236.

Riêng 50% không xuất phát từ dãy Fibonacci mà từ lý thuyết Dow, theo đó chỉ số thường điều chỉnh lại một nửa nhịp đi trước.

23,6% vào nhóm điều chỉnh nông, phù hợp với mô hình cờ và những nhịp nghỉ ngắn. Vùng 38,2% đến 50% là điều chỉnh vừa phải. 61,8% là điều chỉnh sâu và còn được gọi là tỷ lệ vàng.

Fibonacci thoái lui phụ thuộc vào điểm đặt neo

Mỗi mức Fibonacci được tính từ độ dài của nhịp giá. Vì vậy, điểm đặt neo quyết định toàn bộ các mức trên thang Fibonacci.

Công thức không quy định phải chọn bóng nến hay giá đóng cửa, cũng không quy định phải chọn đáy sớm hay đáy muộn. Đây là lựa chọn của người vẽ.

Trong một nhịp tăng, nếu một người lấy bóng nến làm điểm neo còn người khác lấy giá đóng cửa, hai người có thể tạo ra hai thang Fibonacci khác nhau dù cùng nhìn một đồ thị.

Cùng một nhịp tăng bằng nến, bên phải là hai thang mức Fibonacci vẽ cạnh nhau, một thang neo ở bóng nến và một thang neo ở giá đóng cửa, hai mức 61,8% lệch nhau hơn cả khoảng cách giữa 50% và 61,8% của một thang
Cùng một nhịp, hai chỗ đặt neo, hai thang mức

Với ví dụ trong bài:

  • Người neo tại bóng nến đo được nhịp dài 32,1 điểm.
  • Người neo tại giá đóng cửa đo được nhịp dài 25,1 điểm.
  • Mức 61,8% của hai cách vẽ lệch nhau 3,5 điểm.
  • Khoảng cách này còn lớn hơn 3,0 điểm, là chênh lệch giữa 50% và 61,8% trên cùng một thang.

Vì vậy, câu "giá đang giữ được mức 61,8%" chưa đủ rõ nếu không nói điểm đặt neo. Người này có thể thấy giá đang dừng tại 50%, trong khi người khác lại thấy giá đã thủng 61,8%.

CÙNG MỘT NHỊP, THANG MỨC ĐỔI THEO CHỖ ĐẶT NEO23,6% 116,138,2% 111,550,0% 107,761,8% 103,978,6% 98,5giá hiện tại 107,5

Neo đáy

Neo đỉnh

Theo cách vẽ này: sát mức 50,0%

Đổi cả hai neo sang cách còn lại thì cùng giá này là sát mức 61,8%. Mức 61,8% của cách vẽ này nằm ở 103,9, nhịp dài 32,1 điểm.

Mỗi mức là đỉnh trừ đi một phần của nhịp, nên chỉ cần đổi một trong hai neo là cả thang trượt theo. Không có công thức nào chọn neo thay người vẽ, và đó là chỗ hai người cùng đọc sách vẫn ra hai bảng số.

Cách chọn đỉnh đáy để thống nhất nằm ở bài xác định xu hướng bằng cấu trúc đỉnh đáy.

Vùng 38,2%–61,8% có thể rất hẹp

Khoảng từ 38,2% đến 61,8% chiếm đúng 23,6% chiều dài nhịp tăng.

Nếu cổ phiếu tăng 20% tính từ đáy, vùng này rộng khoảng 4,7% giá đáy. Trong khi đó, một phiên trần trên HOSE có thể đưa giá tăng 7% so với giá tham chiếu.

Tính từ mép dưới của vùng, tức mức 61,8%, một phiên trần có thể kéo giá đi khoảng 7,5%.

Đồ thị so bề rộng vùng 38,2% tới 61,8% với quãng một phiên trần đi được theo độ dài nhịp tăng, hai đường cắt nhau ở nhịp khoảng ba mươi ba phần trăm, dưới đó vùng vàng hẹp hơn một phiên trần
Nhịp càng ngắn, vùng vàng càng mỏng so với một phiên trần

Hai khoảng này cắt nhau khi nhịp tăng đạt khoảng 33,5%. Với nhịp tăng ngắn hơn mức này, vùng 38,2%–61,8% thậm chí còn mỏng hơn quãng giá một phiên trần có thể đi được.

Điều đó có nghĩa giá có thể đi vào vùng Fibonacci trong một phiên rồi vượt khỏi vùng ngay phiên sau, chưa đủ thời gian để quan sát phản ứng của dòng tiền. Với nến ở thị trường Việt Nam, nơi phiên trần và phiên sàn không hiếm, khoảng cách giữa lý thuyết Fibonacci và diễn biến thực tế càng đáng chú ý.

Mức Fibonacci là vùng cảnh báo, không phải điểm đảo chiều

Các mức Fibonacci không phải điểm đảo chiều cứng. StockCharts xem đây là những vùng cảnh báo, tức những khoảng giá cần được theo dõi kỹ hơn.

Khi giá chạm một mức Fibonacci, người phân tích cần thêm công cụ khác để xác nhận. Fibonacci có sai số như các công cụ kỹ thuật khác, không thể chính xác 100%, và khuyến nghị kết hợp với sóng Elliott hoặc các chỉ báo động lượng như MACDRSI.

Theo cách này, mức Fibonacci gần với một vùng hỗ trợ và kháng cự hơn là một con số để đặt lệnh. Đây là khu vực cần quan sát kỹ, không phải tín hiệu đảo chiều tự động.

Các tỷ lệ Fibonacci cũng có thể được kéo dài vượt 100% thành Fibonacci mở rộng, với những mức như 127,2% và 161,8%.

Dù là Fibonacci thoái lui hay Fibonacci mở rộng, công cụ vẫn phụ thuộc vào hai điểm neo ban đầu.

Đọc tiếp trong tuyến

Bài sau chuyển sang Pivot Point, một bộ mức cũng được tính từ giá đã qua nhưng sử dụng công thức không cần chọn điểm neo.

Bản đồ ba nhóm chỉ báo nằm ở bài trụ chỉ báo kỹ thuật.

Câu hỏi thường gặp

Các mức Fibonacci thoái lui tính từ đâu ra?

Từ dãy 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21… Một số chia cho số liền sau tiến về 0,618, chia cho số cách hai vị trí tiến về 0,382, cách ba vị trí tiến về 0,236. Mức 50% không phải số Fibonacci mà đến từ lý thuyết Dow, theo StockCharts.

Mức 61,8% có phải một con số cố định của thị trường không?

Không. Mỗi mức là đỉnh trừ đi một phần của nhịp, nên nó đổi theo chỗ người vẽ đặt neo đáy và neo đỉnh. Trên cùng một nhịp, neo ở bóng nến và neo ở giá đóng cửa cho hai mức 61,8% cách nhau 3,5 điểm, hơn cả khoảng cách giữa 50% và 61,8% trên một thang.

Giá chạm mức Fibonacci thì có đảo chiều không?

StockCharts nói các mức này không phải điểm đảo chiều cứng mà là vùng cảnh báo, cần công cụ khác xác nhận. DNSE cũng ghi Fibonacci có sai số như mọi công cụ kỹ thuật khác và không thể chính xác 100%.

Nguồn tham khảo

  1. [1]Fibonacci Retracements StockCharts ChartSchool
  2. [2]Fibonacci là gì? Hướng dẫn sử dụng mô hình 2 bước cho người mới bắt đầu Chứng khoán DNSE

Tuyến bài · Phần 11/18

Chỉ báo kỹ thuật

  1. 1Chỉ báo kỹ thuật: 3 nhóm chỉ báo và những giới hạn cần biết
  2. 2Đường trung bình động MA và EMA: khác nhau ở trọng số một phiên
  3. 3Giao cắt vàng và giao cắt tử thần: Tín hiệu đến muộn bao nhiêu phiên?
  4. 4Chỉ báo RSI: quá mua không phải là lệnh bán
  5. 5Phân kỳ RSI: Vì sao xu hướng khỏe vẫn xuất hiện tín hiệu phân kỳ
  6. 6Chỉ báo MACD: ba thành phần và những điều MACD không đo được
  7. 7Dải Bollinger: xu hướng đều đặn vẫn làm dải nở ra
  8. 8Chỉ báo Stochastic khác RSI?
  9. 9Chỉ báo ADX: đo sức mạnh xu hướng, không đo hướng giá
  10. 10Ichimoku: đám mây phía trước được tính từ giá đã qua
  11. 11Fibonacci thoái lui: thang mức trượt theo điểm đặt neo
  12. 12Pivot point: 5 mức giá tính từ 1 cây nến hôm qua
  13. 13Chỉ báo ATR: điểm dừng lỗ 2×ATR nằm gọn trong một phiên sàn
  14. 14Chỉ báo OBV: một bước giá 50 đồng có thể đổi dấu cả cột khối lượng
  15. 15Volume Profile: 15 phút ATC đổ vào đúng 1 hàng giá
  16. 16Chỉ báo CCI và Williams %R: một phiên trần, %R chạm nóc còn CCI lên +554
  17. 17Kết hợp chỉ báo kỹ thuật: 4 tín hiệu quá mua từ 1 dữ liệu giá
  18. 18Chỉ báo kỹ thuật có chính xác không?

Tác giả

Ban Biên Tập Học Đầu TưBan biên tập

Ban biên tập Học Đầu Tư chịu trách nhiệm thu thập, đối chiếu và biên tập toàn bộ nội dung trên trang. Chúng tôi ưu tiên nguồn sơ cấp — công bố thông tin của HOSE, HNX, UPCoM, báo cáo tài chính đã kiểm toán và số liệu của cơ quan quản lý — và luôn ghi rõ nguồn cho mọi số liệu xuất hiện trong bài.

  • Kiểm chứng nguồn sơ cấp
  • Không nhận tài trợ theo mã cổ phiếu

Nội dung được rà soát lần gần nhất ngày .

Bài viết liên quan