Bỏ qua để tới nội dung chính

Chỉ báo kỹ thuật có chính xác không?

Chỉ báo kỹ thuật không có một mức độ chính xác cố định. Chỉ báo là chuỗi số được biến đổi từ giá và khối lượng quá khứ.

Ban Biên Tập Học Đầu Tư5 phút đọc
Hai cột p-value cho cùng một luật giao dịch tốt nhất giai đoạn 1987 tới 1996, cột 0,004 khi xét riêng luật đó và cột 0,341 khi tính cả 7.846 luật đã thử, bên cạnh một chuỗi giá toả ra nhiều đường chỉ báo
Hai cột p-value cho cùng một luật giao dịch tốt nhất giai đoạn 1987 tới 1996, cột 0,004 khi xét riêng luật đó và cột 0,341 khi tính cả 7.846 luật đã thử, bên cạnh một chuỗi giá toả ra nhiều đường chỉ báo

Bài trước đã phân tích vì sao bốn công thức cùng đọc một giá đóng cửa thực chất chỉ cung cấp một dữ kiện. Câu hỏi cuối của tuyến bài là: chỉ báo kỹ thuật có chính xác không, và tại sao thêm chỉ báo hoặc liên tục thay đổi tham số không đồng nghĩa với việc dự báo chính xác hơn.

Bài viết này nằm trong tuyến chỉ báo kỹ thuật.

Chỉ báo kỹ thuật có chính xác không?

Chỉ báo kỹ thuật không có một mức độ chính xác cố định. Chỉ báo là chuỗi số được biến đổi từ giá và khối lượng quá khứ. Hiệu quả của nó phụ thuộc vào luật giao dịch và đoạn dữ liệu được dùng để kiểm tra.

Chỉ báo kỹ thuật là chuỗi điểm dữ liệu được tạo ra khi đưa giá vào một công thức nhất định. Công thức chỉ lọc diễn biến giá dưới một góc nhìn khác, vì vậy chỉ báo không phản ánh trực tiếp giá mà là một dạng đạo hàm từ giá.

Một chuỗi giá duy nhất ở bên trái toả ra sáu đường chỉ báo ở bên phải qua sáu công thức, mọi đường đều nối về cùng một nguồn và không đường nào nhận thêm dữ liệu từ ngoài
Một chuỗi giá, nhiều đạo hàm

RSI, MACD, Bollinger hay Ichimoku đều được tính từ dữ liệu giá của các phiên trước. Chúng không nhận thêm thông tin bên ngoài chuỗi giá. Vì vậy, khi chồng nhiều chỉ báo lên cùng một đồ thị, bạn thực chất đang nhìn một nguồn dữ liệu qua nhiều công thức khác nhau.

Không có công thức nào tự tạo thêm thông tin ngoài dữ liệu giá và khối lượng đầu vào.

Thử nghiệm hàng nghìn quy tắc luôn tạo ra một kết quả đẹp mắt

Năm 1999, Sullivan, Timmermann và White công bố một khảo sát trên The Journal of Finance. Họ mở rộng 26 quy tắc giao dịch của Brock, Lakonishok và LeBaron thành 7.846 thiết lập, gồm đường trung bình động, hỗ trợ kháng cự, kênh giá và chỉ báo khối lượng cân bằng OBV.

Toàn bộ các thiết lập được thử trên dữ liệu ngày của chỉ số Dow Jones trong 100 năm, từ 1897 đến 1996.

Trong mẫu kiểm tra, thiết lập có hiệu suất cao nhất là đường trung bình động đơn giản 5 ngày, đạt lợi nhuận 17,17% mỗi năm. Kết quả vẫn có ý nghĩa thống kê ngay cả khi đã tính đến việc thử 7.846 phương án.

Nhưng kết quả thay đổi khi bước sang giai đoạn kiểm định ngoài mẫu từ 1987 đến 1996.

Quy tắc tốt nhất đạt lợi nhuận 14,41% mỗi năm và có p-value 0,004 nếu chỉ xét riêng quy tắc đó. P-value đo xác suất một kết quả như vậy xuất hiện do ngẫu nhiên dù phương pháp thực tế không hiệu quả.

Với p-value 0,004, quy tắc có vẻ rất đáng tin.

Khi tính đến toàn bộ 7.846 lần thử bằng phương pháp Reality Check của White, p-value tăng lên 0,341. Kết quả khi đó không còn khác biệt đáng kể so với việc chọn ngẫu nhiên.

Trên hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 giai đoạn 1984–1996, p-value cũng tăng từ 0,042 lên 0,908.

Hai cột cho cùng một luật tốt nhất giai đoạn 1987 tới 1996, cột trái p-value 0,004 khi xét riêng luật, cột phải 0,341 khi tính cả 7.846 luật đã thử, vạch 0,05 nằm giữa hai cột
Cùng một luật, hai p-value

Hiện tượng thử rất nhiều phương án rồi chọn ra phương án có kết quả tốt nhất được gọi là data snooping.

Khi số lần thử tăng lên, khả năng xuất hiện một quy tắc có kết quả vượt trội trong quá khứ cũng tăng. Quy tắc đứng đầu vì thế có thể thay đổi theo từng giai đoạn:

  • Đường trung bình động 5 ngày trong 100 năm.
  • OBV 2 ngày trong giai đoạn 1939–1962.
  • Luật lọc giá trong giai đoạn ngoài mẫu.

Điều này cho thấy thử thêm chỉ báo và liên tục tinh chỉnh tham số không tự động làm chiến lược chính xác hơn. Khi số lần thử tăng, khả năng tìm thấy một kết quả đẹp trong dữ liệu quá khứ cũng tăng theo.

1 LUẬT TUNG XU, MỖI LUẬT ĐOÁN 20 PHIÊN059101520trục ngang: số phiên đoán đúng trong 20 · trục dọc: số luật đạt mức đótrung bình cả đám 9,0/20, đúng như tung xu

Một luật tung xu đoán đúng 9/20 phiên. Không có gì để khoe.

Nếu bạn chỉ được xem luật thắng và số phiên nó đúng, bạn không có cách nào biết nó được chọn từ 1 lần thử. Đó là khoảng cách giữa p-value 0,004 và 0,341 trong nghiên cứu năm 1999.

Mỗi luật ở đây đoán hướng của 20 phiên bằng tung xu, không nhìn vào giá. Càng thử nhiều luật, luật đứng đầu càng đoán đúng nhiều phiên, dù cả đám vẫn đúng trung bình 10/20. Số ngẫu nhiên sinh từ hạt cố định nên ai kéo cũng thấy cùng kết quả; bấm tung lại để đổi hạt.

Chỉ báo kỹ thuật phản ánh đặc điểm dữ liệu giá HOSE

Vì được tính trực tiếp từ dữ liệu gốc, chỉ báo kỹ thuật cũng mang theo những đặc điểm của cơ chế tạo giá trên HOSE.

Tuyến bài đã đề cập ba đặc thù thường gặp.

Khi cổ phiếu tăng trần, giá cao nhất, giá thấp nhất và giá đóng cửa trùng nhau. Cây nến này khiến chỉ báo ATR phải đo bằng khoảng thực, đẩy Stochastic lên mức tối đa 100 và kéo CCI vượt +500.

Với phiên ATC toàn bộ khối lượng được khớp trong 15 phút cuối ngày tại một mức giá duy nhất. Cơ chế này có thể khiến chỉ báo OBV đảo dấu cả cột khối lượng chỉ vì một bước giá 50 đồng, đồng thời dồn 15 phút giao dịch vào một hàng giá trên Volume Profile.

Các giao dịch thỏa thuận không qua sổ lệnh vẫn được tính vào những chỉ báo khối lượng.

Công thức không tự loại bỏ được đặc điểm của dữ liệu đầu vào. Khi một chỉ báo phát tín hiệu quá mua sau phiên tăng trần, điều đó không có nghĩa chỉ báo dự báo sai. Nó đang phản ánh cây nến có biên độ 7% đúng theo dữ liệu đầu vào.

Vì vậy, trước khi đánh giá một con số chỉ báo, cần hiểu cây nến trên HOSE được hình thành như thế nào.

Chỉ báo kỹ thuật có đáng tin không?

Câu hỏi phù hợp không phải là chỉ báo kỹ thuật có chính xác tuyệt đối hay không, mà là tín hiệu đó được tạo ra từ dữ liệu nào, theo công thức nào và đã được kiểm tra bằng cách nào.

Một chỉ báo chỉ biến đổi dữ liệu giá và khối lượng quá khứ. Nhiều chỉ báo trên cùng đồ thị không tạo thêm dữ kiện mới. Trong khi đó, việc thử hàng nghìn thiết lập có thể tạo ra một quy tắc trông rất hiệu quả chỉ vì nó phù hợp với dữ liệu quá khứ.

Hiểu rõ nguồn dữ liệu và cách hình thành tín hiệu vì thế quan trọng không kém bản thân con số của chỉ báo.

Đọc tiếp trong tuyến

Tuyến bài chỉ báo kỹ thuật kết thúc tại đây. Bước tiếp theo là phương pháp phân tích biểu đồ không dùng công thức trong tuyến price action. Bản đồ ba nhóm chỉ báo nằm ở bài trụ chỉ báo kỹ thuật.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ báo kỹ thuật nào chính xác nhất?

Không có câu trả lời, vì độ chính xác không phải thuộc tính của chỉ báo mà của một luật giao dịch đo trên một đoạn dữ liệu. Sullivan, Timmermann và White thử 7.846 luật trên 100 năm Dow Jones: luật đứng đầu mỗi thời kỳ là một luật khác, từ trung bình động 5 ngày tới OBV 2 ngày, và luật đứng đầu giai đoạn ngoài mẫu không còn ý nghĩa thống kê khi tính cả cuộc tìm.

Data snooping là gì?

Là thử rất nhiều luật trên cùng một bộ dữ liệu rồi chỉ báo cáo luật tốt nhất, khiến kết quả trông chắc hơn thật. Trong nghiên cứu năm 1999, luật tốt nhất giai đoạn 1987 tới 1996 có p-value 0,004 nếu xét riêng nó, nhưng 0,341 khi tính cả 7.846 luật đã thử để tìm ra nó.

Vậy có nên dùng chỉ báo kỹ thuật không?

Dùng được, với đúng vai trò StockCharts nêu: chỉ báo là đạo hàm của giá, lọc giá qua một công thức, nên mọi phân tích chỉ báo phải đặt cạnh diễn biến giá. Nó không thay được việc đọc giá, và thêm chỉ báo không thêm thông tin nào ngoài chuỗi giá và khối lượng đã có.

Nguồn tham khảo

  1. [1]Data-Snooping, Technical Trading Rule Performance, and the Bootstrap Sullivan, Timmermann và White, The Journal of Finance 54(5), 01/10/1999
  2. [2]Bootstrap Reality Check & Technical Trading Rules (bài giảng Stat 207, chép lại bảng II và IV của Sullivan, Timmermann, White 1999) David Donoho, Đại học Stanford, 01/11/2020
  3. [3]Introduction to Technical Indicators and Oscillators StockCharts ChartSchool

Tuyến bài · Phần 18/18

Chỉ báo kỹ thuật

  1. 1Chỉ báo kỹ thuật: 3 nhóm chỉ báo và những giới hạn cần biết
  2. 2Đường trung bình động MA và EMA: khác nhau ở trọng số một phiên
  3. 3Giao cắt vàng và giao cắt tử thần: Tín hiệu đến muộn bao nhiêu phiên?
  4. 4Chỉ báo RSI: quá mua không phải là lệnh bán
  5. 5Phân kỳ RSI: Vì sao xu hướng khỏe vẫn xuất hiện tín hiệu phân kỳ
  6. 6Chỉ báo MACD: ba thành phần và những điều MACD không đo được
  7. 7Dải Bollinger: xu hướng đều đặn vẫn làm dải nở ra
  8. 8Chỉ báo Stochastic khác RSI?
  9. 9Chỉ báo ADX: đo sức mạnh xu hướng, không đo hướng giá
  10. 10Ichimoku: đám mây phía trước được tính từ giá đã qua
  11. 11Fibonacci thoái lui: thang mức trượt theo điểm đặt neo
  12. 12Pivot point: 5 mức giá tính từ 1 cây nến hôm qua
  13. 13Chỉ báo ATR: điểm dừng lỗ 2×ATR nằm gọn trong một phiên sàn
  14. 14Chỉ báo OBV: một bước giá 50 đồng có thể đổi dấu cả cột khối lượng
  15. 15Volume Profile: 15 phút ATC đổ vào đúng 1 hàng giá
  16. 16Chỉ báo CCI và Williams %R: một phiên trần, %R chạm nóc còn CCI lên +554
  17. 17Kết hợp chỉ báo kỹ thuật: 4 tín hiệu quá mua từ 1 dữ liệu giá
  18. 18Chỉ báo kỹ thuật có chính xác không?

Tác giả

Ban Biên Tập Học Đầu TưBan biên tập

Ban biên tập Học Đầu Tư chịu trách nhiệm thu thập, đối chiếu và biên tập toàn bộ nội dung trên trang. Chúng tôi ưu tiên nguồn sơ cấp — công bố thông tin của HOSE, HNX, UPCoM, báo cáo tài chính đã kiểm toán và số liệu của cơ quan quản lý — và luôn ghi rõ nguồn cho mọi số liệu xuất hiện trong bài.

  • Kiểm chứng nguồn sơ cấp
  • Không nhận tài trợ theo mã cổ phiếu

Nội dung được rà soát lần gần nhất ngày .

Bài viết liên quan