Người mới thường vẽ hỗ trợ và kháng cự bằng một đường kẻ ngang, rồi bực mình khi giá xuyên qua đường đó vài bước rồi mới quay đầu. Đường không sai, nhưng nó mô tả thiếu: thứ chặn giá lại là một vùng hỗ trợ và kháng cự có bề dày, không phải một con số.

Bài này đi vào phần thao tác: lấy vùng từ đâu, rộng bao nhiêu, và những chỗ đồ thị Việt Nam làm lệch phép vẽ. Phần khái niệm nằm ở bài trụ hỗ trợ và kháng cự.

Vì sao giá không quay đầu ở một mức duy nhất

Một mức giá trở thành kháng cự vì có người muốn bán quanh đó. Nhưng những người đó không cùng đặt lệnh ở một con số.

Người mua hụt ở đỉnh cũ muốn bán hoà vốn. Người cầm hàng lâu muốn chốt lời. Người bán khống muốn vào lệnh. Ba nhóm này đặt lệnh rải ra trong một khoảng vài phần trăm, tuỳ vào việc họ vào hàng ở đâu và chịu đựng được bao nhiêu.

Kết quả là áp lực bán không tập trung ở một điểm mà trải trên một dải. Giá đi vào dải đó thì chậm lại, đi hết dải mà vẫn còn lực thì mới thực sự vượt qua.

Vẽ một đường là giả định cả đám đông cùng hành động tại một con số. Không ai làm vậy.

Cách xác định vùng hỗ trợ và kháng cự trên đồ thị

Ba bước, làm theo đúng thứ tự này:

Ba bước xác định một vùng kháng cự: tìm cụm điểm quay đầu, lấy biên trên và biên dưới, rồi chờ một lần chạm nữa để xác nhận
Hai bước đầu là thao tác vẽ, bước thứ ba là chờ thời gian trôi thêm.

Bước một, tìm cụm điểm quay đầu. Nhìn lại đồ thị và đánh dấu những chỗ giá dừng lại rồi đổi hướng. Bỏ qua các điểm đơn lẻ; thứ cần tìm là chỗ có từ hai điểm trở lên nằm gần nhau về giá, dù cách nhau về thời gian.

Bước hai, lấy biên trên và biên dưới. Trong cụm đó, mức cao nhất là biên trên, mức thấp nhất là biên dưới. Khoảng giữa hai mức chính là vùng. Nếu các đỉnh nằm rải trong khoảng 25.000 tới 25.600 đồng thì vùng kháng cự là đúng khoảng đó, không phải con số 25.300 ở giữa.

Bước ba, kiểm bằng một lần chạm nữa. Vùng vẽ từ hai điểm mới là giả thuyết. Lần giá quay lại và phản ứng đúng trong vùng đó là bằng chứng đầu tiên. Điều này giống hệt nguyên tắc điểm thứ ba khi vẽ đường xu hướng.

Làm xong ba bước, trên đồ thị sẽ có vài dải ngang chứ không phải một mạng lưới đường kẻ.

Lấy độ rộng vùng từ thân nến hay bóng nến

Đây là chỗ hai người vẽ ra hai vùng khác nhau từ cùng một đồ thị.

Bóng nến là nơi giá đã chạm tới nhưng không giữ được. Thân nến là vùng giá đóng cửa và mở cửa, tức nơi giao dịch thực sự diễn ra dày nhất.

Cách gọn nhất là dùng cả hai làm hai lớp. Lấy khoảng giữa các thân nến làm lõi vùng, phần mở rộng tới hết bóng nến làm rìa vùng. Giá vào rìa là cảnh báo, giá vào lõi mới là chỗ đáng quyết định.

Vùng kháng cự vẽ thành hai lớp, lõi lấy theo thân nến và rìa nới ra tới hết bóng nến
Lõi lấy theo thân nến, rìa nới ra tới hết bóng nến. Bốn lần chạm đều nằm gọn trong vùng hai lớp.

Cách này giải quyết được tình huống khó chịu nhất khi vẽ đường: giá vượt qua mức đã kẻ vài bước rồi quay đầu. Với hai lớp, chuyện đó không còn là ngoại lệ mà nằm sẵn trong cách vẽ.

Nếu chỉ muốn một lớp thì chọn thân nến, và chấp nhận rằng giá sẽ thò ra ngoài vùng khá thường xuyên.

Số lần chạm nhiều không làm vùng mạnh thêm

Trực giác thông thường nói vùng bị chạm càng nhiều lần thì càng chắc. Thực tế ngược lại.

Mỗi lần giá chạm vùng kháng cự và bật xuống, một phần lệnh bán chờ ở đó đã được khớp. Lượng hàng muốn thoát tại vùng ấy vơi đi. Tới lần thứ tư, thứ năm, thứ còn lại để chặn giá mỏng hơn hẳn so với lần đầu.

Bốn lần giá chạm cùng một vùng kháng cự, lượng lệnh chờ còn lại vơi dần sau mỗi lần cho tới khi giá vượt qua
Mỗi lần chạm là một lần lệnh chờ tại vùng bị tiêu hao. Tới lần thứ tư, phần còn lại để chặn giá đã rất mỏng.

Cách đọc thực dụng: hai lần chạm là quan sát, lần thứ ba xác nhận vùng có thật, từ lần thứ tư trở đi thì khả năng vùng bị phá tăng dần chứ không giảm. Vùng bị chạm liên tục trong thời gian ngắn thường là vùng sắp vỡ.

Vùng cũ bao lâu thì hết hiệu lực

Không có mốc cố định, nhưng có hai nguyên tắc dùng được.

Thứ nhất, vùng càng gần hiện tại càng đáng chú ý. Người đang cầm cổ phiếu nhớ mức giá họ mua tháng trước rõ hơn mức giá hai năm trước. Vùng sống được nhờ trí nhớ của người tham gia, mà trí nhớ thì phai.

Thứ hai, vùng trên khung thời gian lớn sống lâu hơn. Một vùng thấy được trên đồ thị tuần có nhiều người nhìn thấy hơn một vùng chỉ hiện trên đồ thị 15 phút, nên nó tập hợp được nhiều lệnh hơn.

Ngoại lệ đáng nhớ: những mức giá tròn và những đỉnh lịch sử vẫn có tác dụng rất lâu, kể cả sau nhiều năm. Không phải vì phân tích kỹ thuật linh nghiệm, mà vì con người thích đặt lệnh ở số tròn và vẫn nhớ mức cao nhất mọi thời đại của một cổ phiếu.

Ba chỗ đồ thị Việt Nam làm lệch phép vẽ

Biên độ dao động. HOSE giới hạn 7% mỗi phiên, HNX 10%, UPCoM 15%. Một phiên chạm trần hoặc chạm sàn không phải là chỗ giá tự nhiên dừng lại, mà là chỗ hệ thống chặn nó lại. Đừng lấy mức trần sàn làm biên vùng, vì lần sau biên độ tính trên tham chiếu khác sẽ ra con số khác.

Giá tròn theo bước giá. Bước giá trên HOSE là 10, 50 hoặc 100 đồng tuỳ mức giá. Lệnh dồn về các mốc tròn nghìn nhiều hơn hẳn, nên vùng hỗ trợ kháng cự ở thị trường Việt Nam thường bám sát các mốc như 20.000, 25.000, 30.000 đồng. Đây là điều nên tận dụng chứ không phải bỏ qua.

Cổ phiếu thanh khoản thấp. Với cổ phiếu vài chục nghìn đơn vị mỗi phiên, các đỉnh và đáy trên đồ thị có thể do vài lệnh nhỏ tạo ra. Vùng vẽ từ những điểm đó không phản ánh áp lực thật của thị trường. Nguyên tắc chung: thanh khoản càng mỏng thì mọi tín hiệu kỹ thuật càng kém tin cậy, không riêng vùng hỗ trợ kháng cự.

Vẽ quá nhiều vùng thì không còn vùng nào

Lỗi phổ biến sau khi học cách vẽ vùng là phủ kín đồ thị bằng các dải ngang. Khi đó mọi mức giá đều nằm trong một vùng nào đó, và công cụ mất hết khả năng phân biệt.

Giữ số vùng đủ ít để mỗi vùng còn nghĩa. Một cách tự kiểm: nếu bạn không nói được vì sao vùng này quan trọng hơn khoảng giá ngay bên cạnh nó, thì vùng đó không nên có trên đồ thị.

Ưu tiên giữ lại vùng gần giá hiện tại nhất theo cả hai hướng, cộng thêm các vùng trùng với đỉnh đáy lớn trên khung thời gian cao hơn.

Thứ vùng hỗ trợ và kháng cự không nói được

Vùng cho biết giá có khả năng phản ứng ở đâu. Nó không cho biết giá sẽ phản ứng theo hướng nào, cũng không cho biết khi nào.

Một vùng kháng cự có thể bị phá ngay lần chạm đầu nếu có tin đủ mạnh. Ngược lại giá có thể đi ngang dưới vùng đó hàng tháng mà không làm gì cả. Vùng là nơi đáng chú ý, không phải tín hiệu mua bán.

Muốn biết bối cảnh trước khi dùng vùng, phải đọc được cấu trúc xu hướng đang ở trạng thái nào. Nội dung đó nằm ở bài xác định xu hướng bằng cấu trúc đỉnh đáy.