Bỏ qua để tới nội dung chính

Chỉ báo ATR: điểm dừng lỗ 2×ATR nằm gọn trong một phiên sàn

Chỉ báo ATR đo khoảng thực trung bình 14 phiên. ATR đo độ biến động, còn khả năng thực hiện điểm dừng lỗ vẫn phụ thuộc vào diễn biến giá và thanh khoản tại thời điểm đó.

Ban Biên Tập Học Đầu Tư6 phút đọc
Đường ATR vọt lên sau một phiên sàn rồi trượt dần về mức cũ qua bốn mươi phiên, bên cạnh là hai thanh so khoảng dừng lỗ 2×ATR với quãng một phiên sàn 7%
Đường ATR vọt lên sau một phiên sàn rồi trượt dần về mức cũ qua bốn mươi phiên, bên cạnh là hai thanh so khoảng dừng lỗ 2×ATR với quãng một phiên sàn 7%

Bài trước phân tích pivot point, công cụ xác định hỗ trợ và kháng cự từ giá của phiên liền trước. Chỉ báo ATR cũng dựa trên dữ liệu giá, nhưng đo độ biến động qua 14 phiên để hỗ trợ đặt mức dừng lỗ.

Điểm đáng chú ý là điểm dừng lỗ 2×ATR có thể nằm gọn trong một phiên giảm sàn trên HOSE. Bài viết này đi từ cách ATR đo biến động đến giới hạn của điểm dừng lỗ khi giá giảm mạnh. Bài thuộc tuyến chỉ báo kỹ thuật.

Chỉ báo ATR là gì?

ATR (Average True Range) là chỉ báo đo độ biến động giá bằng cách lấy trung bình khoảng thực của 14 phiên gần nhất. Khác với việc chỉ đo biên độ trong một phiên, ATR tính cả khe hở giá giữa hai phiên liên tiếp.

Khoảng thực là giá trị lớn nhất trong ba mức:

  • Giá cao nhất trừ giá thấp nhất.
  • Giá trị tuyệt đối của giá cao nhất trừ giá đóng cửa phiên trước.
  • Giá trị tuyệt đối của giá thấp nhất trừ giá đóng cửa phiên trước.
Ba phiên đặt cạnh giá đóng cửa phiên trước: phiên thường lấy cao trừ thấp, phiên nhảy lên lấy cao trừ đóng cửa cũ, phiên nhảy xuống lấy đóng cửa cũ trừ thấp, khoảng được chọn tô đậm
Khoảng thực chọn khoảng dài nhất trong ba cách đo

J. Welles Wilder giới thiệu ATR trong cuốn New Concepts in Technical Trading Systems năm 1978.

Theo cách tính được nêu trong bài, ATR của 14 phiên đầu tiên là trung bình cộng của 14 khoảng thực. Những phiên sau được tính theo công thức:

ATR mới = (13 × ATR cũ + khoảng thực hiện tại) / 14

ATR được đo bằng đơn vị giá, không phải phần trăm. Vì vậy, cổ phiếu có thị giá thấp thường có ATR nhỏ hơn cổ phiếu có thị giá cao và không thể dùng ATR để so sánh trực tiếp giữa hai mã.

Quan trọng hơn, ATR chỉ đo độ biến động, không cho biết giá đang tăng hay giảm.

Phiên trần cứng không có biên độ nhưng vẫn có khoảng thực

Điểm khác biệt của ATR thể hiện rõ ở phiên tăng kịch trần.

Giả sử một cổ phiếu có giá tham chiếu 20.000 đồng, tăng trần ngay từ khi mở cửa và không có giao dịch bán cho đến cuối phiên. Giá cao nhất, thấp nhất và đóng cửa đều ở 21.400 đồng.

Khi đó:

  • Biên độ trong phiên = 0 đồng.
  • Khoảng thực = 21.400 - 20.000 = 1.400 đồng.
  • Khoảng thực tương đương 7%.

Phiên tiếp theo, giá tiếp tục tăng trần lên 22.850 đồng sau khi làm tròn theo bước giá 50 đồng. Khoảng thực đạt 1.450 đồng.

Phiên thứ ba, giá chạm 24.400 đồng và khoảng thực đạt 1.550 đồng.

Ba phiên trần cứng liên tiếp chỉ còn ba vạch ngang ở 21.400, 22.850 và 24.400, dưới mỗi vạch là cột khoảng thực 1.400, 1.450 và 1.550 đồng trong khi cột biên độ phiên bằng 0
Biên độ bằng 0, khoảng thực gần 7% mỗi phiên

Điều này khác với pivot point, bởi pivot point chỉ nhìn vào giá trong một phiên. Với nến ở thị trường Việt Nam, nơi giá trần và giá sàn xuất hiện thường xuyên, ATR giữ lại phần khe hở giữa hai phiên mà biên độ trong phiên không phản ánh được.

Một phiên sàn có thể làm ATR tăng hơn một tháng

Giả sử một cổ phiếu giá 20.000 đồng có khoảng thực duy trì ở mức 400 đồng mỗi phiên, tương đương 2% giá. Khi đó ATR cũng ở mức 400 đồng.

Nếu một phiên cổ phiếu mở cửa tại giá tham chiếu rồi giảm thẳng xuống sàn 18.600 đồng, khoảng thực của phiên đó tăng lên 1.400 đồng.

ATR khi đó tăng từ 400 lên 471,43 đồng, tức tăng hơn 18%.

Sau cú giảm mạnh, giả sử cổ phiếu quay lại nhịp 400 đồng mỗi phiên. Phần tăng thêm 71,43 đồng trong ATR không biến mất ngay mà giảm dần với tốc độ 1/14 qua từng phiên.

  • Sau 9 phiên, phần tăng thêm giảm còn một nửa.
  • Sau 31 phiên, phần tăng thêm giảm còn một phần mười.

Như vậy, chỉ một phiên sàn có thể khiến ATR cao hơn đáng kể và kéo dài ảnh hưởng trong nhiều tuần.

Đường ATR đứng yên ở 400 đồng, vọt lên 471 ở phiên sàn rồi trượt dần về 400 qua bốn mươi phiên, có hai mốc 9 phiên và 31 phiên đánh dấu chỗ phần nới thêm còn một nửa và một phần mười
Một phiên sàn kéo ATR lên rồi ATR rụng chậm theo hệ số 13/14
ATR THEO % GIÁ, SAU MỘT PHIÊN SÀNphiên sàn+10+20+30+402,0%ATR 2,00%dừng 2×ATRphiên sàn 7%

Điểm dừng 4,00% ngắn hơn quãng một phiên sàn 7%: giá nhảy qua nó trong một phiên.

Với hệ số ×2,0, điểm dừng chỉ rộng bằng một phiên sàn khi ATR nền từ 3,50% giá trở lên.

Phiên sàn có khoảng thực 7% giá tham chiếu, các phiên khác giữ đúng ATR nền. Sau cú sốc, ATR mới bằng (13 lần ATR cũ cộng khoảng thực hôm nay) chia 14, nên phần nới thêm chỉ rụng 1/14 mỗi phiên: sau 9 phiên còn một nửa, sau 31 phiên còn một phần mười.

Mức dừng lỗ bằng 2×ATR trong ví dụ này tăng từ 800 đồng lên 943 đồng. Sau đó phải mất hơn một tháng mới thu hẹp gần về mức cũ.

Đây cũng là nhược điểm của ATR: đường trung bình trượt có độ trễ và phản ứng chậm với biến động bất ngờ. Trọng số 1/14 khiến ảnh hưởng của một phiên biến động mạnh giảm xuống từ từ.

Điểm dừng 2×ATR so với một phiên giảm sàn

Ở mức giá 20.000 đồng, ATR ban đầu là 400 đồng, tương đương 2% giá. Điểm dừng lỗ bằng 2×ATR sẽ cách giá mua:

400 × 2 = 800 đồng, tương đương 4%.

Trong khi đó, một phiên giảm kịch sàn trên HOSE có thể khiến giá giảm 7%.

Như vậy, điểm dừng lỗ 2×ATR có thể nằm hoàn toàn bên trong một phiên giảm sàn. Giá có thể đi thẳng qua mức dừng mà không cho nhà đầu tư cơ hội thực hiện lệnh tại đúng mức giá dự kiến.

Trong trường hợp giá giảm kịch sàn, lệnh bán tại điểm dừng có thể được khớp ở giá sàn hoặc bị kẹt do bên mua đã rút hết.

Điểm dừng 2×ATR chỉ rộng hơn quãng giảm sàn khi ATR của cổ phiếu đạt từ 3,5% giá trở lên.

StockCharts sử dụng hệ số 3×ATR 21 phiên cho điểm dừng trượt. Với cách tính này, ngưỡng tương ứng giảm xuống khoảng 2,33% giá. Cổ phiếu có ATR 2% vẫn thấp hơn cả hai ngưỡng.

Cách vận hành của điểm dừng trượt là lấy giá cao nhất kể từ khi mua trừ đi hệ số nhân với ATR. Đường dừng chỉ được dời lên khi giá tăng, không hạ xuống.

Cách này giúp giữ lợi nhuận khi cổ phiếu đi lên, nhưng không giải quyết được vấn đề quan trọng của một phiên giảm sàn: giá có thể vượt qua điểm dừng trong một phiên duy nhất. Dải Bollinger, một công cụ đo biến động khác, cũng gặp giới hạn tương tự khi giá rơi vào phiên trần hoặc sàn.

Chỉ báo ATR cho biết điều gì về điểm dừng lỗ?

ATR hữu ích ở chỗ cho biết độ rộng biến động của giá, từ đó có thể dùng để xác định khoảng cách cho điểm dừng lỗ.

Nhưng ATR không đảm bảo điểm dừng sẽ được thực hiện đúng mức giá đặt ra. Với một cổ phiếu có ATR thấp, mức dừng 2×ATR có thể chỉ tương đương 4% giá, trong khi một phiên giảm sàn trên HOSE có thể đưa giá giảm 7% chỉ trong một phiên.

Vì vậy, cần phân biệt rõ hai vấn đề: ATR đo độ biến động, còn khả năng thực hiện điểm dừng lỗ vẫn phụ thuộc vào diễn biến giá và thanh khoản tại thời điểm đó.

Đọc tiếp trong tuyến chỉ báo kỹ thuật

Bài tiếp theo trình bày chỉ báo OBV, công cụ cộng dồn khối lượng theo chiều của giá đóng cửa. Bản đồ ba nhóm chỉ báo nằm ở bài trụ chỉ báo kỹ thuật.

Câu hỏi thường gặp

Khoảng thực (true range) khác biên độ phiên ở chỗ nào?

Biên độ phiên là cao trừ thấp. Khoảng thực lấy số lớn nhất trong ba khoảng: cao trừ thấp, cao trừ giá đóng cửa phiên trước, thấp trừ giá đóng cửa phiên trước, hai khoảng sau lấy trị tuyệt đối. Nhờ vậy nó giữ lại khe hở giữa hai phiên, thứ mà biên độ phiên bỏ qua.

Vì sao một phiên sàn làm ATR tăng lâu như vậy?

Vì công thức của Wilder chỉ cho phiên mới nhất 1/14 trọng số: ATR mới bằng (13 lần ATR cũ cộng khoảng thực hôm nay) chia 14. Phần tăng thêm mỗi phiên sau đó chỉ rụng 1/14, nên sau 9 phiên còn một nửa, sau 31 phiên vẫn còn một phần mười.

Đặt dừng lỗ bằng ATR thì nhân mấy?

DNSE nêu mức dừng lỗ bằng giá vào trừ 2 lần ATR. StockCharts đặt mặc định cho điểm dừng lỗ trượt theo ATR là 3 lần ATR 21 phiên, trừ từ giá cao nhất kể từ khi mua, và điểm dừng chỉ dời theo chiều xu hướng.

Nguồn tham khảo

  1. [1]Average True Range (ATR) StockCharts ChartSchool
  2. [2]ATR Trailing Stops StockCharts ChartSchool
  3. [3]Chỉ báo ATR là gì? Cách sử dụng chỉ báo này trong đầu tư! Chứng khoán DNSE
  4. [4]Các quy định cần biết khi giao dịch chứng khoán tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM, 16/04/2026

Tuyến bài · Phần 13/18

Chỉ báo kỹ thuật

  1. 1Chỉ báo kỹ thuật: 3 nhóm chỉ báo và những giới hạn cần biết
  2. 2Đường trung bình động MA và EMA: khác nhau ở trọng số một phiên
  3. 3Giao cắt vàng và giao cắt tử thần: Tín hiệu đến muộn bao nhiêu phiên?
  4. 4Chỉ báo RSI: quá mua không phải là lệnh bán
  5. 5Phân kỳ RSI: Vì sao xu hướng khỏe vẫn xuất hiện tín hiệu phân kỳ
  6. 6Chỉ báo MACD: ba thành phần và những điều MACD không đo được
  7. 7Dải Bollinger: xu hướng đều đặn vẫn làm dải nở ra
  8. 8Chỉ báo Stochastic khác RSI?
  9. 9Chỉ báo ADX: đo sức mạnh xu hướng, không đo hướng giá
  10. 10Ichimoku: đám mây phía trước được tính từ giá đã qua
  11. 11Fibonacci thoái lui: thang mức trượt theo điểm đặt neo
  12. 12Pivot point: 5 mức giá tính từ 1 cây nến hôm qua
  13. 13Chỉ báo ATR: điểm dừng lỗ 2×ATR nằm gọn trong một phiên sàn
  14. 14Chỉ báo OBV: một bước giá 50 đồng có thể đổi dấu cả cột khối lượng
  15. 15Volume Profile: 15 phút ATC đổ vào đúng 1 hàng giá
  16. 16Chỉ báo CCI và Williams %R: một phiên trần, %R chạm nóc còn CCI lên +554
  17. 17Kết hợp chỉ báo kỹ thuật: 4 tín hiệu quá mua từ 1 dữ liệu giá
  18. 18Chỉ báo kỹ thuật có chính xác không?

Tác giả

Ban Biên Tập Học Đầu TưBan biên tập

Ban biên tập Học Đầu Tư chịu trách nhiệm thu thập, đối chiếu và biên tập toàn bộ nội dung trên trang. Chúng tôi ưu tiên nguồn sơ cấp — công bố thông tin của HOSE, HNX, UPCoM, báo cáo tài chính đã kiểm toán và số liệu của cơ quan quản lý — và luôn ghi rõ nguồn cho mọi số liệu xuất hiện trong bài.

  • Kiểm chứng nguồn sơ cấp
  • Không nhận tài trợ theo mã cổ phiếu

Nội dung được rà soát lần gần nhất ngày .

Bài viết liên quan