Trong tuyến mô hình giá, ba mẫu hình trước dựa trên đường viền cổ nằm ngang và có thể kéo dài sang phải mà không có mốc thời gian cố định. Mô hình tam giác lại khác: hai đường xu hướng hội tụ khiến biên độ dao động thu hẹp dần và tạo ra một khoảng thời gian thích hợp để giá phá vỡ.
Bài viết này nối tiếp ngay sau bài mô hình ba đỉnh, nằm trong tuyến mô hình giá.
Mô hình tam giác là gì?
Mô hình tam giác là cấu trúc giá được tạo bởi hai đường xu hướng hội tụ, khiến biên độ dao động thu hẹp dần. Để xác lập mẫu hình, cần tối thiểu hai đỉnh và hai đáy.
Có ba dạng chính:
- Tam giác tăng: cạnh trên nằm ngang, các đáy nâng dần.
- Tam giác giảm: cạnh dưới nằm ngang, các đỉnh hạ dần.
- Tam giác cân: cả hai cạnh đều dốc và hội tụ về một điểm.
Cạnh nằm ngang phản ánh lực mua hoặc bán tại một mức giá cố định. Với tam giác tăng, giá nhiều lần kiểm tra cùng một vùng kháng cự trong khi các đáy liên tục cao hơn. Điều này cho thấy bên mua chấp nhận mức giá cao hơn qua từng nhịp điều chỉnh. Quy luật này nằm ở bài vùng hỗ trợ và kháng cự.
Mẫu hình cần ít nhất hai đỉnh và hai đáy để kẻ hai đường giới hạn. Cấu trúc chuẩn thường có sáu điểm chạm, chia đều cho hai cạnh trước khi giá thoát khỏi mẫu hình.
Hai cạnh hội tụ tạo ra giới hạn thời gian
Điểm đặc biệt của mô hình tam giác nằm ở hai đường giới hạn hội tụ. Khi giá tiến gần đỉnh tam giác, khoảng dao động ngày càng nhỏ.
Vì vậy, mẫu hình không thể kéo dài vô hạn, ghi nhận khoảng phá vỡ phù hợp nhất nằm từ một nửa đến ba phần tư chặng đường tính từ gốc đến đỉnh tam giác.
Giá phá vỡ trước một nửa chặng đường có thể là quá sớm. Ngược lại, nếu di chuyển quá sát đỉnh, hai cạnh đã gần nhau khiến lực phá vỡ mất tác dụng.
Về thời gian hình thành, mẫu hình dưới ba tuần thường được xếp vào nhóm cờ đuôi nheo, trong khi tam giác chuẩn thường kéo dài khoảng ba tháng.
Chiều cao tam giác thu hẹp theo từng phiên
Tại thị trường chứng khoán Việt Nam, cổ phiếu được giao dịch theo bước giá, tức khoảng cách tối thiểu giữa hai mức giá liên tiếp.
Ví dụ, một cổ phiếu quanh mức 30.000 đồng hình thành tam giác cân cao 3.000 đồng và hai cạnh hội tụ trong 60 phiên. Nếu chiều cao giảm đều 50 đồng mỗi phiên, biên độ mẫu hình sẽ thu hẹp theo từng nấc giá.
Mốc trong tam giác | Phiên thứ | Chiều cao còn lại | Số nấc |
|---|---|---|---|
Gốc | 0 | 3.000 đồng | 60 |
Một nửa chặng | 30 | 1.500 đồng | 30 |
Ba phần tư chặng | 45 | 750 đồng | 15 |
Sát đỉnh | 58 | 100 đồng | 2 |
Đến phiên 58, khoảng cách giữa hai cạnh chỉ còn hai nấc giá. Giá khi đó chỉ có thể dao động giữa ba mức giá liền kề, khiến cây nến rất khó hoàn thiện đầy đủ thân và bóng trong không gian quá hẹp.
Đây cũng là giới hạn kỹ thuật từng được đề cập trong mẫu hình nến Việt Nam.
Một phiên tăng trần có thể lấn át toàn bộ tam giác
Biên độ dao động trên HOSE là 7%. Với cổ phiếu giá 30.000 đồng, một phiên tăng kịch trần tương ứng mức tăng 2.100 đồng, tương đương 42 nấc giá.
Trong ví dụ trên, chiều cao tam giác giảm một nấc mỗi phiên. Đến phiên thứ 18, chiều cao chỉ còn 2.100 đồng, bằng đúng mức dịch chuyển của một phiên tăng trần.
Từ phiên 18 trở đi, biên độ của một phiên giao dịch có thể lớn hơn toàn bộ không gian còn lại của mẫu hình.
Điều này đặc biệt đáng chú ý vì khoảng phá vỡ lý tưởng từ phiên 30 đến 45 nằm sau thời điểm một phiên tăng trần đã có thể vượt toàn bộ chiều cao tam giác.
Khi đó, giá có thể chạm cả hai cạnh và đóng cửa bên ngoài mẫu hình chỉ vì biên độ dao động trong ngày, chưa chắc phản ánh sự thay đổi thực sự của cấu trúc giá.
Nhà đầu tư cần quan sát thêm phiên tiếp theo để xác định tín hiệu. Nội dung về cách nhận diện tín hiệu này được trình bày trong bài phá vỡ giả.




