Mô hình cái nêm là mẫu hình đặc biệt trong phân tích kỹ thuật: hai cạnh cùng dốc về một hướng nhưng giá thường phá vỡ theo hướng ngược lại. Đây là điểm khác biệt so với sáu mẫu hình trước trong tuyến mô hình giá.
Bài viết nối tiếp bài mô hình cốc tay cầm và tập trung vào cấu trúc, độ dốc, mục tiêu giá và vai trò của khối lượng trong mô hình cái nêm.
Mô hình cái nêm là gì?
Mô hình cái nêm là dạng đồ thị gồm hai đường xu hướng nối các đỉnh và đáy, cùng dốc về một phía nhưng thu hẹp dần khi tiến về chóp.
Có hai dạng chính:
- Nêm tăng: Hai cạnh cùng dốc lên, giá thường phá vỡ theo hướng giảm.
- Nêm giảm: Hai cạnh cùng dốc xuống, giá thường phá vỡ theo hướng tăng.
Cả hai đều là mẫu hình hội tụ, thường xuất hiện sau một xu hướng tăng hoặc giảm rõ rệt và mất khoảng ba đến sáu tháng để hình thành.
Để kẻ cạnh trên cần ít nhất hai đỉnh phản ứng, lý tưởng là ba; cạnh dưới cần ít nhất hai đáy.
Độ dốc hai cạnh quyết định cấu trúc cái nêm
Điểm quan trọng khi nhận diện mô hình cái nêm nằm ở sự chênh lệch độ dốc giữa hai cạnh.
Với nêm tăng, cạnh dưới dốc hơn cạnh trên. Điều này cho thấy:
- Đáy sau cao hơn nhanh hơn, phản ánh người mua chấp nhận mức giá cao hơn qua từng nhịp điều chỉnh.
- Đỉnh vẫn tăng nhưng tốc độ chậm dần, cho thấy mỗi nhịp tăng tạo đỉnh mới đi được ít hơn trước.
Cạnh trên dốc thoải hơn là dấu hiệu đà tăng đang suy yếu.
Với nêm giảm, cách đọc được đảo ngược: cạnh trên dốc hơn cạnh dưới. Các đáy tiếp tục thấp hơn nhưng mức giảm ngày càng nông, cho thấy lực bán suy yếu.
Cách xác định và kẻ hai đường xu hướng được trình bày trong bài vẽ đường xu hướng.
Chênh lệch độ dốc phải đủ lớn
Hiệu số giữa độ dốc hai cạnh quyết định mức độ hội tụ của mô hình cái nêm.
Trên HOSE, cổ phiếu trong khoảng giá 10.000–49.950 đồng có bước giá 50 đồng. Vì vậy, chênh lệch độ dốc phải đủ lớn để cấu trúc cái nêm thể hiện rõ trên đồ thị.
Ví dụ với cổ phiếu giá 30.000 đồng và cái nêm kéo dài 60 phiên, mức tăng tối đa trong một phiên là 7%, tương đương 2.100 đồng hoặc 42 nấc giá.
Chênh lệch độ dốc | Sau 60 phiên nêm hẹp lại | Số nấc | So với một phiên trần |
|---|---|---|---|
5 đồng/phiên | 300 đồng | 6 nấc | 0,14 lần |
10 đồng/phiên | 600 đồng | 12 nấc | 0,29 lần |
25 đồng/phiên | 1.500 đồng | 30 nấc | 0,71 lần |
50 đồng/phiên | 3.000 đồng | 60 nấc | 1,43 lần |
Ba mức đầu tiên đều tạo ra độ hội tụ nhỏ hơn biến động của một phiên tăng kịch trần. Với chênh lệch chỉ 5 đồng, chỉ cần lệch một điểm khi nối đường xu hướng, cấu trúc có thể chuyển thành kênh giá – dạng có hai cạnh song song và cách đọc khác.




