Sáu mẫu hình trước trong tuyến đều có giá thoát ra theo hướng đoán được từ hình dáng. Mô hình cái nêm lại đi ngược quy luật đó khi hai cạnh cùng dốc về một hướng nhưng giá lại thoát ra theo chiều ngược lại. Bài viết này nằm trong tuyến mô hình giá và nối tiếp bài mô hình cốc tay cầm.
Mô hình cái nêm là gì và hai dạng của nó
Mô hình cái nêm là dạng đồ thị gồm hai đường xu hướng nối các đỉnh và đáy cùng dốc về một chiều nhưng thu hẹp dần. Nêm tăng có hai cạnh dốc lên báo hiệu giá đảo chiều giảm. Nêm giảm có hai cạnh dốc xuống báo hiệu giá đảo chiều tăng. Cả hai đều thoát ra ngược hướng hai cạnh.
Chứng khoán DSC mô tả đây là mẫu hình hội tụ, xuất hiện sau một xu hướng tăng hoặc giảm rõ rệt. StockCharts đòi hỏi ít nhất hai đỉnh phản ứng để kẻ được cạnh trên, lý tưởng là ba, và ít nhất hai đáy cho cạnh dưới. Cả nêm tăng lẫn nêm giảm thường mất ba tới sáu tháng để hình thành.
Cạnh nào dốc hơn thì cạnh đó nói ra kết cục
Chứng khoán DNSE và Chứng khoán DSC cùng mô tả nêm tăng bằng một chi tiết: cạnh dưới dốc hơn cạnh trên. Hai độ dốc đó thể hiện hai hành vi thị trường trái ngược nhau. Đáy nâng nhanh nghĩa là người mua chấp nhận trả giá cao hơn qua từng nhịp điều chỉnh. Đỉnh nhích chậm nghĩa là mỗi lần đẩy lên lại đi được ít hơn nhịp trước.
StockCharts giải thích cạnh trên dốc thoải hơn là dấu hiệu đà tăng đang yếu dần khi cổ phiếu liên tục lập đỉnh mới. Nêm giảm đọc ngược lại: cạnh trên dốc hơn cạnh dưới, nghĩa là đáy sau thấp hơn đáy trước nhưng thủng nông dần và lực bán yếu đi. Cách kẻ hai đường đó nằm ở bài vẽ đường xu hướng.
Chênh lệch độ dốc quy ra nấc giá thì còn lại bao nhiêu
Tín hiệu của mẫu hình phụ thuộc vào hiệu số giữa độ dốc hai cạnh. Trên sàn HOSE, cổ phiếu thuộc khoảng giá từ 10.000 đến 49.950 đồng giao dịch theo bước giá 50 đồng, tức khoảng chênh lệch tối thiểu giữa hai mức giá đặt lệnh mua bán. Hiệu độ dốc vì vậy phải đủ lớn thì cái nêm mới hiện lên đồ thị.
Xét một cổ phiếu 30.000 đồng và một cái nêm kéo dài 60 phiên. Biên độ giao dịch của sàn HOSE là 7%. Một phiên tăng kịch trần, tức giá nhích lên tối đa trong một ngày, làm thay đổi 2.100 đồng, tương đương 42 nấc giá.
| Chênh lệch độ dốc | Sau 60 phiên nêm hẹp lại | Số nấc | So với một phiên trần |
|---|---|---|---|
| 5 đồng/phiên | 300 đồng | 6 nấc | 0,14 lần |
| 10 đồng/phiên | 600 đồng | 12 nấc | 0,29 lần |
| 25 đồng/phiên | 1.500 đồng | 30 nấc | 0,71 lần |
| 50 đồng/phiên | 3.000 đồng | 60 nấc | 1,43 lần |
Ba dòng đầu của bảng đều nằm dưới 42 nấc. Trải qua ba tháng giao dịch, hai đường ranh giới xích lại gần nhau một quãng ngắn hơn biến động giá của một phiên kịch trần. Với mức chênh lệch 5 đồng, chấm lệch một điểm nối khi vẽ là hình đã chuyển sang dạng kênh giá, cấu trúc có hai cạnh song song và cách đọc khác hẳn.




