Khác với mô hình tam giác và mô hình cái nêm, mô hình chữ nhật có hai cạnh song song nên không tự thu hẹp theo thời gian. Giá dao động trong một vùng giới hạn bởi kháng cự và hỗ trợ, cho đến khi xuất hiện phiên đóng cửa phá vỡ một trong hai cạnh. Bài viết nằm trong tuyến mô hình giá và nối tiếp bài mô hình cái nêm.
Mô hình chữ nhật là gì và cần mấy điểm chạm
Mô hình chữ nhật là mẫu hình giá hình thành khi cổ phiếu dao động giữa hai đường ngang song song:
- Kháng cự: mức giá ngăn cổ phiếu tăng cao hơn.
- Hỗ trợ: mức giá đỡ cổ phiếu không giảm thêm.
Mẫu hình cần ít nhất hai đỉnh và hai đáy nằm gần nhau trên các đường ngang tương ứng. Các đỉnh, đáy không nhất thiết bằng nhau tuyệt đối, chỉ cần dao động sát quanh cùng một vùng giá.
Cấu trúc này thể hiện trạng thái giằng co giữa bên mua và bên bán, khi chưa bên nào đủ sức kiểm soát xu hướng. Đây cũng là dạng tích lũy đi ngang có thể kéo dài trong một khoảng thời gian. Cách đọc một vùng tích luỹ đi ngang nằm ở bài thị trường sideway.
Mô hình chữ nhật không có hạn dùng cố định
Điểm khác biệt lớn giữa mô hình chữ nhật, tam giác và cái nêm nằm ở hình dạng hai cạnh.
Tam giác và cái nêm có hai cạnh hội tụ nên khoảng dao động của giá ngày càng thu hẹp và cuối cùng đi đến điểm kết thúc. Ngược lại, hai cạnh của hình chữ nhật song song nên giá có thể tiếp tục dao động trong hộp mà không bị giới hạn bởi một điểm hội tụ.
Mẫu hình được xem là phá vỡ khi có giá đóng cửa nằm hẳn bên ngoài cạnh trên hoặc cạnh dưới.
Một vùng chữ nhật kéo dài dưới ba tuần thường được xếp vào dạng mô hình cờ, trong khi một hình chữ nhật tiêu chuẩn có thể kéo dài khoảng ba tháng. Thời gian tích lũy càng lâu thì cú phá vỡ càng đáng chú ý.
Chiều cao mô hình chữ nhật và giới hạn theo biên độ
Ở vùng giá 30.000 đồng, với bước giá 50 đồng và biên độ dao động ngày 7%, một phiên tăng trần có thể dịch chuyển 2.100 đồng, tương đương 42 nấc giá.
Khi so sánh chiều cao của hộp với quãng giá một phiên có thể di chuyển, giới hạn của mô hình trở nên rõ hơn:
Chiều cao hộp | Ở vùng 30.000 đồng | Quy ra nấc | Một phiên trần đi được |
|---|---|---|---|
3% | 900 đồng | 18 nấc | 2,3 lần cả hộp |
5% | 1.500 đồng | 30 nấc | 1,4 lần |
7% | 2.100 đồng | 42 nấc | đúng 1 lần |
10% | 3.000 đồng | 60 nấc | 0,7 lần |
15% | 4.500 đồng | 90 nấc | 0,47 lần |
Với những chiếc hộp nhỏ hơn 7%, chỉ một phiên biến động mạnh cũng có thể đi từ hỗ trợ lên kháng cự. Vì vậy, việc giá chạm hoặc vượt cạnh hộp trong một phiên chưa đủ để kết luận cấu trúc đã thay đổi. Cách phân biệt một cú thoát ra thật với một cú thoát ra do biên độ nằm ở bài phá vỡ giả.




