Bỏ qua để tới nội dung chính

Mô hình 2 đỉnh và 2 đáy: Chênh bao nhiêu vẫn được xem là bằng nhau?

Mô hình 2 đỉnh đòi hai đỉnh xấp xỉ bằng nhau, nhưng mỗi nguồn đặt một ngưỡng khác. Quy ngưỡng ấy ra bước giá HOSE thì độ chặt chênh nhau tới năm lần.

Ban Biên Tập Học Đầu Tư7 phút đọc
Đường giá hình chữ M với hai đỉnh gần bằng nhau nằm trong một dải chấp nhận, dưới là đường viền cổ nằm ngang và dòng chữ 18 nấc giá
Đường giá hình chữ M với hai đỉnh gần bằng nhau nằm trong một dải chấp nhận, dưới là đường viền cổ nằm ngang và dòng chữ 18 nấc giá

Mô hình 2 đỉnh là một trong những mẫu hình đảo chiều dễ nhận biết nhất. Mẫu hình gồm hai đỉnh giá gần bằng nhau, một đáy ở giữa và chỉ được xác nhận khi giá phá vỡ đường viền cổ. Bài này nằm trong tuyến mô hình giá và nối tiếp từ bài mô hình vai đầu vai.

Mô hình 2 đỉnh là gì và khi nào tính là hoàn thành

Mô hình 2 đỉnh thường xuất hiện ở cuối một xu hướng tăng, gồm:

  • Hai đỉnh có mức giá gần bằng nhau.
  • Một đáy nằm giữa hai đỉnh.
  • Đường viền cổ được kẻ ngang qua đáy giữa.
  • Mẫu hình hoàn thành khi giá có phiên đóng cửa dưới đường viền cổ.
Đường giá đi lên tạo đỉnh 30.000, lùi về đáy 26.500, lên lại đỉnh 29.550 rồi rơi xuống đóng cửa 26.400 dưới đường viền cổ nằm ngang
Bốn phần dựng theo đúng thứ tự thời gian chúng xuất hiện

Vùng kháng cự trong mô hình là khu vực lực bán đủ mạnh để ngăn giá tăng tiếp.

Điều kiện xác nhận là giá phá xuống dưới đường viền cổ và đóng cửa bên dưới mức này. Về khối lượng: đỉnh thứ hai có khối lượng thấp hơn đỉnh thứ nhất, trong khi phiên phá vỡ cần đi kèm khối lượng tăng mạnh.

Đỉnh thứ hai chưa phải tín hiệu xác nhận. Nếu giá chưa phá đường viền cổ, việc vào lệnh sớm vẫn tiềm ẩn rủi ro.

Vì sao đường viền cổ của mô hình 2 đỉnh luôn nằm ngang?

Điểm khác biệt quan trọng giữa mô hình 2 đỉnh và mô hình vai đầu vai nằm ở số lượng đáy.

Hai đồ thị cạnh nhau: bên trái mẫu vai đầu vai có hai đáy nên đường viền cổ đổi qua lại giữa một đường nghiêng và một đường ngang, bên phải mẫu hai đỉnh chỉ có một đáy nên chỉ có một đường ngang
Số đáy quyết định đường kẻ, không phải số đỉnh

Mô hình vai đầu vai có ba đỉnh và hai đáy xen giữa. Khi nối hai đáy, đường viền cổ có thể nghiêng hoặc nằm ngang tùy dữ liệu giá.

Trong khi đó, mô hình 2 đỉnh chỉ có một đáy ở giữa. Không có điểm thứ hai để nối, vì vậy đường viền cổ bắt buộc phải là đường ngang đi qua mức giá của đáy này.

Khi đó, vấn đề cần quan tâm chuyển sang câu hỏi: Hai đỉnh chênh lệch bao nhiêu thì vẫn được xem là bằng nhau?

Hai đỉnh chênh bao nhiêu vẫn được xem là bằng nhau?

Các tài liệu hiện nay đưa ra những ngưỡng khác nhau.

Một số bên cho rằng hai đỉnh phải tương đương hoặc chênh lệch không quá 3%. Phần còn lại cho rằng khoảng chênh lệch lý tưởng nằm trong 3% đến 5%.

Một trục giá đứng với hai dải chấp nhận thay nhau sáng lên: dải 3% từ 29.100 tới 30.900 loại đỉnh thứ hai ở 28.800, còn dải 5% từ 28.500 tới 31.500 thì nhận
Cùng một cặp đỉnh, hai cái thước, hai kết luận

Ví dụ, một cổ phiếu có:

  • Đỉnh thứ nhất: 30.000 đồng
  • Đỉnh thứ hai: 28.800 đồng
  • Chênh lệch: 1.200 đồng, tương đương 4%

Theo tiêu chuẩn 3% của DSC, đây không phải mô hình 2 đỉnh. Nhưng theo khoảng 3%-5% của VFS, mẫu hình vẫn hợp lệ.

Vì vậy, có thể xem hai đỉnh là hai lần giá kiểm tra cùng một vùng kháng cự, thay vì yêu cầu chúng phải bằng nhau tuyệt đối. (Xem thêm bài vùng hỗ trợ và kháng cự)

Ngưỡng 3% không giống nhau ở mọi thị giá

Trên HOSE, cổ phiếu có các bước giá khác nhau tùy theo thị giá:

Giá đỉnh thứ nhất

Bước giá

Ngưỡng 3% quy ra tiền

Số nấc giá mỗi phía

10.000 đồng

50 đồng

300 đồng

6

20.000 đồng

50 đồng

600 đồng

12

30.000 đồng

50 đồng

900 đồng

18

49.950 đồng

50 đồng

1.498,5 đồng

29

50.000 đồng

100 đồng

1.500 đồng

15

Điều này cho thấy cùng một ngưỡng 3% nhưng số nấc giá được phép chênh lệch lại rất khác nhau.

Đáng chú ý, khi thị giá tăng từ 49.950 lên 50.000 đồng, bước giá tăng từ 50 lên 100 đồng. Vì vậy, số nấc giá tương ứng với mức chênh 3% giảm từ 29 xuống còn 15 nấc.

Trong khi đó, biên độ dao động trên HOSE là 7% mỗi phiên. Với cổ phiếu quanh 30.000 đồng, một phiên tăng kịch trần tương đương 2.100 đồng, tức 42 nấc giá. Khoảng chấp nhận 3% chỉ tương đương 18 nấc mỗi phía.

Bốn cột vạch giá cao thấp khác nhau: cổ phiếu 10.000 đồng có 6 vạch, 30.000 đồng có 18 vạch, 49.950 đồng có 29 vạch, còn 50.000 đồng tụt xuống 15 vạch
Cùng một luật phần trăm, bốn độ chặt khác nhau

Điều này cho thấy một ngưỡng phần trăm cố định không phải lúc nào cũng tương ứng với cùng một khoảng biến động thực tế. Bài mẫu hình nến Việt Nam từng chỉ ra mâu thuẫn tương tự, khi quy chuẩn 5% của nến doji, loại nến có giá đóng cửa xấp xỉ giá mở cửa, đôi khi hẹp hơn cả một bước giá.

dải 5%dải 3%30.00029.550bước giá 50 đồng · 18 nấc trong dải 3% mỗi phía

Cả hai ngưỡng đều nhận

Hai đỉnh chênh 450 đồng, tức 9 nấc giá và 1,50%. Con số này nằm dưới cả ngưỡng 3% lẫn ngưỡng 5%, nên không nguồn nào loại mẫu hình.

Ngưỡng 3% quy ra18 nấc
Ngưỡng 5% quy ra30 nấc
Một phiên trần đi được42 nấc
Dải 3% và dải 5% luôn chiếm cùng một tỷ lệ trên trục giá, nên chúng không đổi bề rộng khi bạn kéo. Thứ đổi là số vạch nằm trong đó, tức số mức giá có thật mà đỉnh thứ hai được phép rơi vào. Kéo qua mốc 50.000 đồng để thấy dải thưa đi một nửa.

Cách đo mục tiêu giá của mô hình 2 đỉnh

Mục tiêu giá được xác định bằng cách đo khoảng cách từ đỉnh xuống đường viền cổ, sau đó chiếu khoảng cách tương tự xuống từ điểm phá vỡ.

Ví dụ:

  • Đỉnh: 30.000 đồng
  • Đường viền cổ: 26.500 đồng
  • Chiều cao mô hình: 3.500 đồng
  • Mục tiêu giá: 23.000 đồng

Mức mục tiêu tương đương giảm 13,2% tính từ điểm phá vỡ. Mô hình 2 đỉnh trên đồ thị ngày thường mất 2-6 tuần để hình thành. Ở khung thời gian nhỏ hơn, chu kỳ hình thành cũng ngắn hơn.

Đường giá hình chữ M với đoạn dọc 3.500 đồng đo từ đỉnh xuống viền cổ 26.500, rồi cùng độ dài ấy chiếu xuống thành mục tiêu 23.000, kèm một vạch mức giá sàn 24.650
Một chiều cao, và lần này chỉ một chỗ đặt chân thước

Mô hình 2 đáy: phiên bản ngược của 2 đỉnh

Mô hình 2 đáy xuất hiện ở cuối một xu hướng giảm, gồm hai đáy gần bằng nhau và một đỉnh ở giữa, tạo thành hình chữ W.

Đường viền cổ được kẻ qua đỉnh giữa và đóng vai trò kháng cự. Khi giá phá vỡ đi lên, đường này chuyển sang vai trò hỗ trợ, theo đúng nguyên lý của bài kháng cự thành hỗ trợ

Khối lượng của mô hình 2 đáy có ba giai đoạn:

  • Đáy thứ nhất: khối lượng tăng nhẹ.
  • Đỉnh giữa: khối lượng tăng cao.
  • Đáy thứ hai: khối lượng giảm xuống thấp.

Mức phục hồi từ đáy thứ nhất lên đỉnh giữa thường nằm trong khoảng 10%-20%. (Xem thêm bài: khối lượng xác nhận xu hướng)

Độ tin cậy của mô hình 2 đỉnh

Theo thống kê của Thomas Bulkowski cho nhóm mẫu hình này:

  • Tỷ lệ thất bại: 20%-25%.
  • Tỷ lệ giá quay lại kiểm tra đường viền cổ: 64%-65%.
  • Tỷ lệ giá chạm mục tiêu: 43%-64%.
Bốn thanh ngang trên thang phần trăm: thất bại 20 tới 25, quay lại chạm viền cổ 64 tới 65, đạt mục tiêu 43 tới 64, và một thanh thành công 83 phần trăm nằm tách hẳn ra
Xếp lên cùng một thang thì hai nguồn không thể cùng đúng

Tỷ lệ thành công 83% nếu mẫu hình được xác nhận đúng cách

Cần lưu ý rằng số liệu của Bulkowski được đo trên thị trường Mỹ, không phải dữ liệu riêng của cổ phiếu niêm yết trên HOSE. Vì vậy, các tỷ lệ trên chỉ nên được xem là khoảng tham chiếu.

Những giới hạn khi sử dụng mô hình 2 đỉnh

Mô hình 2 đỉnh có một số giới hạn đáng chú ý.

Thứ nhất, độ chênh giữa hai đỉnh phụ thuộc vào ngưỡng mà người phân tích lựa chọn. Nếu đỉnh thứ hai vượt quá ngưỡng chấp nhận, mẫu hình không còn phù hợp.

Thứ hai, giá có thể phá vỡ đường viền cổ rồi quay đầu tăng trở lại, tạo thành phá vỡ giả.

Thứ ba, việc giá quay lại kiểm tra đường viền cổ khá phổ biến, khiến việc phân biệt tín hiệu xác nhận và tín hiệu giả trở nên khó khăn hơn.

Cuối cùng, mô hình chỉ cung cấp điểm xác nhận và mục tiêu giá, không đảm bảo giá sẽ đi hết khoảng mục tiêu.

Mô hình 2 đỉnh cần nhớ điều gì?

Mô hình 2 đỉnh không yêu cầu hai đỉnh phải bằng nhau tuyệt đối. Điều quan trọng là chúng cùng kiểm tra một vùng kháng cự và mẫu hình chỉ được xác nhận khi giá đóng cửa dưới đường viền cổ.

Ngưỡng chênh lệch 3%-5% được đề cập trong các tài liệu tham khảo, nhưng cách áp dụng cần đặt trong bối cảnh thị giá và bước giá thực tế.

Với mô hình 2 đáy, nguyên lý được đảo ngược: hai đáy hình thành ở cuối xu hướng giảm, đỉnh giữa tạo đường viền cổ và tín hiệu xác nhận xuất hiện khi giá phá vỡ đường này theo hướng tăng.

Bài tiếp theo trong tuyến sẽ chuyển sang mô hình 3 đỉnh và 3 đáy, nơi bài toán về độ chênh giữa các đỉnh và đáy trở nên phức tạp hơn. Toàn bộ các dạng hình còn lại nằm ở bài trụ mô hình giá.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình 2 đỉnh gồm những phần nào?

Một đợt tăng đi trước, hai đỉnh xấp xỉ bằng nhau, một đáy nằm giữa hai đỉnh, và một đường viền cổ kẻ ngang qua đáy đó. Hình vẽ ra giống chữ M. Mẫu hình chỉ tính là hoàn thành khi có một phiên đóng cửa dưới đường viền cổ.

Hai đỉnh chênh bao nhiêu phần trăm thì vẫn gọi là bằng nhau?

Không có con số chung. Chứng khoán DSC đặt độ lệch trong khoảng 3%, còn Chứng khoán Nhất Việt đặt 3 tới 5%. Cùng một cặp đỉnh chênh 4% sẽ bị nguồn thứ nhất loại và được nguồn thứ hai nhận, nên bạn cần biết mình đang theo ngưỡng nào.

Vì sao đường viền cổ của mô hình 2 đỉnh luôn nằm ngang?

Vì nó chỉ có một điểm neo. Mẫu vai đầu vai có hai đáy nên nối lại thành một đường có độ nghiêng riêng, còn mẫu hai đỉnh chỉ có một đáy ở giữa. Không có đáy thứ hai để nối thì đường viền cổ được kẻ ngang qua đúng mức giá của đáy ấy.

Đo mục tiêu giá của mô hình 2 đỉnh thế nào?

Lấy khoảng cách thẳng đứng từ đỉnh xuống đường viền cổ, rồi chiếu đúng khoảng đó xuống từ viền cổ. Với đỉnh 30.000 đồng và viền cổ 26.500 đồng, chiều cao là 3.500 đồng và mục tiêu rơi vào 23.000 đồng. Viền cổ nằm ngang nên phép chiếu chỉ có một cách.

Nguồn tham khảo

  1. [1]Mô hình 2 đỉnh (Double Top) là gì? Cách giao dịch hiệu quả và hạn chế tín hiệu giả — Chứng khoán Nhất Việt
  2. [2]Mô hình 2 đáy là gì? Cách giao dịch với mô hình 2 đáy — Chứng khoán DSC
  3. [3]Kinh nghiệm đầu tư 2023 (Kỳ 2): Mẫu hình hai đỉnh/hai đáy có đáng tin cậy tại thị trường Việt Nam? — Chứng khoán Phú Hưng
  4. [4]Mô hình 2 đỉnh trong chứng khoán và ứng dụng của mô hình khi đầu tư — Chứng khoán DNSE
  5. [5]Các quy định cần biết khi giao dịch chứng khoán tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh — Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM, 16/04/2026

Tuyến bài · Phần 3/12

Mô hình giá

  1. 1Mô hình giá: Các dạng hình thường gặp trên biểu đồ
  2. 2Mô hình vai đầu vai: Cách xác nhận và xác định giá mục tiêu
  3. 3Mô hình 2 đỉnh và 2 đáy: Chênh bao nhiêu vẫn được xem là bằng nhau?
  4. 4Mô hình ba đỉnh và ba đáy
  5. 5Mô hình tam giác: Cấu trúc giá có “hạn sử dụng”
  6. 6Mô hình cờ và cờ đuôi nheo: lá cờ đo bằng nấc giá
  7. 7Mô hình cốc tay cầm: Mẫu hình dài tới mức có thể nuốt cả ngày chốt quyền
  8. 8Mô hình cái nêm: Hai cạnh cùng chiều, giá phá vỡ ngược chiều
  9. 9Mô hình chữ nhật: Hai cạnh song song và cú phá vỡ
  10. 10Mục tiêu giá của mô hình: cùng công thức, khác cách đặt thước
  11. 11Mô hình tiếp diễn và mô hình đảo chiều: Tên gọi không quyết định hướng phá vỡ
  12. 12Bull trap từ một mô hình đẹp: Khi mẫu hình kỹ thuật thất bại

Tác giả

Ban Biên Tập Học Đầu TưBan biên tập

Ban biên tập Học Đầu Tư chịu trách nhiệm thu thập, đối chiếu và biên tập toàn bộ nội dung trên trang. Chúng tôi ưu tiên nguồn sơ cấp — công bố thông tin của HOSE, HNX, UPCoM, báo cáo tài chính đã kiểm toán và số liệu của cơ quan quản lý — và luôn ghi rõ nguồn cho mọi số liệu xuất hiện trong bài.

  • Kiểm chứng nguồn sơ cấp
  • Không nhận tài trợ theo mã cổ phiếu

Nội dung được rà soát lần gần nhất ngày .

Bài viết liên quan