Hai đỉnh gần bằng nhau là hình dễ nhận ra nhất trong nhóm mẫu hình đảo chiều. Mô hình 2 đỉnh đòi hai đỉnh xấp xỉ bằng nhau, nhưng phần lớn tài liệu chỉ dùng chữ xấp xỉ mà không kèm con số rõ ràng. Bài này nằm trong tuyến mô hình giá và nối tiếp từ bài mô hình vai đầu vai.
Mô hình 2 đỉnh là gì và khi nào tính là hoàn thành
Mô hình 2 đỉnh xuất hiện ở cuối một đợt tăng, gồm hai đỉnh giá gần bằng nhau và một đáy nằm giữa. Đường ngang kẻ qua đáy ở giữa gọi là viền cổ. Mẫu hình chỉ hoàn thành khi có một phiên đóng cửa nằm dưới đường viền cổ.
Vùng kháng cự ở đây là vùng giá mà lực bán đủ mạnh để chặn giá tăng tiếp. Chứng khoán Phú Hưng nêu điều kiện xác nhận trong một câu: giá phá xuống dưới viền cổ vẽ tại đáy giữa hai đỉnh và đóng cửa dưới điểm đó. Chứng khoán Nhất Việt bổ sung hai điều kiện về khối lượng, tức tổng số cổ phiếu sang tay trong phiên. Đỉnh thứ hai phải có khối lượng thấp hơn đỉnh thứ nhất. Phiên phá vỡ cần ghi nhận khối lượng tăng vọt.
Phiên tạo đỉnh thứ hai chưa khẳng định được biến động tiếp theo, vì lúc đó đường viền cổ vẫn nằm nguyên phía dưới. Chứng khoán DNSE đặt rủi ro lớn nhất của mẫu hình đúng vào thời điểm này, khi nhà đầu tư vội vàng vào lệnh trước lúc mẫu hình được xác nhận.
Vì sao viền cổ ở mẫu này không nghiêng được
Bài trước trong tuyến dành nhiều thời gian bàn về độ nghiêng của viền cổ, vì hai cách chiếu mục tiêu ở mẫu vai đầu vai tạo ra hai con số lệch nhau 1.300 đồng. Mẫu hai đỉnh không gặp phải vấn đề này, và nguyên nhân nằm ở số lượng đáy trên đồ thị.
Mẫu vai đầu vai tạo ra ba đỉnh nên có hai đáy xen giữa. Nối hai đáy đó lại khiến độ nghiêng phụ thuộc hoàn toàn vào dữ liệu giá. Mẫu hai đỉnh chỉ có một đáy ở giữa. Người phân tích không có điểm thứ hai để nối, nên đường viền cổ bắt buộc kẻ ngang qua đúng mức giá của đáy duy nhất đó. Phần chủ quan của người vẽ lúc này chuyển sang một câu hỏi khác: hai đỉnh chênh lệch bao nhiêu thì vẫn được tính là bằng nhau.
Hai đỉnh chênh bao nhiêu thì vẫn là hai đỉnh
Chứng khoán DSC viết hai mức giá phải tương đương hoặc chỉ được lệch nhau trong khoảng 3%. Trong khi đó, Chứng khoán Nhất Việt cho rằng khoảng chênh lệch lý tưởng dao động từ 3% đến 5%. Cả hai tài liệu đều không cho biết con số này đo trên tập dữ liệu nào.
Xét một cổ phiếu có đỉnh thứ nhất ở 30.000 đồng và đỉnh thứ hai ở 28.800 đồng. Hai đỉnh chênh nhau 1.200 đồng, tương ứng với tỷ lệ 4,0%. Nếu áp dụng tiêu chuẩn của DSC, đây không phải mẫu hai đỉnh. Nếu áp dụng quy tắc từ Nhất Việt, đây lại là mẫu hình hợp lệ. Cách xử lý phù hợp là xem hai đỉnh như hai lần giá thử thách cùng một vùng kháng cự. Vùng giá vốn có bề dày, đúng như bài vùng hỗ trợ và kháng cự đã phân tích.
Ngưỡng phần trăm quy ra nấc giá thì không đều
Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giá cổ phiếu thay đổi theo bước giá, tức khoảng tăng giảm tối thiểu giữa hai mức giá liên tiếp trên sàn. Trên HOSE, cổ phiếu dưới 10.000 đồng có bước giá 10 đồng, từ 10.000 tới 49.950 đồng là 50 đồng, từ 50.000 đồng trở lên là 100 đồng. Quy định này làm cho ngưỡng 3% quy ra số nấc giá rất lệch nhau ở mỗi thị giá.
| Giá đỉnh thứ nhất | Bước giá | Ngưỡng 3% quy ra tiền | Số nấc giá mỗi phía |
|---|---|---|---|
| 10.000 đồng | 50 đồng | 300 đồng | 6 |
| 20.000 đồng | 50 đồng | 600 đồng | 12 |
| 30.000 đồng | 50 đồng | 900 đồng | 18 |
| 49.950 đồng | 50 đồng | 1.498,5 đồng | 29 |
| 50.000 đồng | 100 đồng | 1.500 đồng | 15 |
Cột cuối cùng cho biết số nấc giá thực tế mà đỉnh thứ hai có thể rơi vào. Cổ phiếu 10.000 đồng chỉ có 6 nấc mỗi phía, cổ phiếu 49.950 đồng có tới 29 nấc. Nhưng khi giá nhích thêm 50 đồng lên mức 50.000 đồng, bước giá đổi thành 100 đồng khiến số nấc giá cho phép thu hẹp xuống còn 15 nấc.
Biên độ dao động trên HOSE là 7% mỗi phiên, tức mức tăng giảm tối đa trong ngày. Đối với cổ phiếu vùng 30.000 đồng, một phiên tăng kịch trần sẽ đẩy giá biến động 2.100 đồng, tương ứng với 42 nấc giá. Nhưng khoảng chấp nhận 3% lúc này chỉ rộng 18 nấc giá mỗi phía. Bài mẫu hình nến Việt Nam từng chỉ ra mâu thuẫn tương tự, khi quy chuẩn 5% của nến doji, loại nến có giá đóng cửa xấp xỉ giá mở cửa, đôi khi hẹp hơn cả một bước giá.




