Giá đi lên nhưng không đi thẳng. Nó nhích lên, tụt lại, rồi nhích tiếp, và nếu nối các đáy bằng một đường rồi chép đường đó song song lên phía trên, phần lớn nhịp dao động nằm gọn giữa hai đường. Cái khung đó gọi là kênh giá.
Bài này nói về cách dựng một kênh cho đúng thứ tự, cái bẫy lớn nhất khi vẽ, và ranh giới giữa thứ kênh giá mô tả được với thứ nó không nói gì. Phần vẽ một đường xu hướng đơn lẻ nằm ở bài vẽ đường xu hướng.
Kênh giá là một đường, không phải hai
Đây là chỗ hầu hết người mới làm sai ngay từ bước đầu.
Kênh không phải hai đường vẽ độc lập, mỗi đường bám vào một loạt điểm riêng. Nó là một đường xu hướng, cộng thêm bản sao của chính đường đó dịch sang phía đối diện. Khoảng cách giữa hai đường là một hằng số, và hằng số đó không thay đổi dọc theo kênh.
Vì sao phải chặt chẽ như vậy: nếu vẽ đường trên bằng cách nối các đỉnh một cách độc lập, gần như chắc chắn nó sẽ không song song với đường dưới. Hai đường hội tụ dần là hình cái nêm, hai đường mở rộng dần là hình cái loa. Cả hai đều là mẫu hình khác, mang ý nghĩa khác, và gọi chúng là kênh sẽ dẫn tới đọc sai.
Ba bước, đúng thứ tự này:
- Nối các đáy nếu giá đang lên, hoặc nối các đỉnh nếu giá đang xuống. Đây là đường neo, và nó cần ít nhất hai điểm chạm.
- Chép đường đó song song sang phía đối diện, đặt sao cho chạm điểm cực trị rõ nhất bên đó.
- Khoảng giữa hai đường là kênh.
Bước 1 quyết định tất cả. Trong xu hướng tăng, các đáy mới là thứ đáng tin, vì chúng cho biết người mua chấp nhận vào ở mức nào. Các đỉnh trong xu hướng tăng thường lởm chởm hơn nhiều.
Ba dạng kênh, khác nhau đúng một thứ
Tài liệu hay chia kênh giá thành ba loại và trình bày như ba công cụ riêng. Thực ra chúng là một, chỉ khác độ dốc.
Kênh tăng dốc lên, đường neo nối các đáy. Kênh giảm dốc xuống, đường neo nối các đỉnh. Kênh ngang gần như nằm ngang, và đây là trường hợp đặc biệt đáng chú ý: khi kênh nằm ngang thì hai biên của nó chính là vùng hỗ trợ và vùng kháng cự, chỉ khác cách gọi tên. Xem thêm vùng hỗ trợ và kháng cự.
Việc gộp ba dạng vào một cách dựng có ích thực dụng: bạn không cần ghi nhớ ba quy trình, chỉ cần xác định xu hướng đang là gì rồi neo đường thứ nhất vào đúng loại cực trị. Phần xác định xu hướng nằm ở bài xác định xu hướng bằng cấu trúc đỉnh đáy.
Cái bẫy: ép kênh cho vừa
Giá thật không bao giờ nằm gọn trong hai đường thẳng hoàn hảo. Luôn có vài điểm thò ra ngoài, và lúc đó người vẽ đứng trước hai lựa chọn.
Bóp kênh hẹp lại cho gọn rồi coi mấy điểm thò ra là nhiễu, hoặc nới kênh ra cho ôm hết và chấp nhận biên rộng hơn. Cách đầu cho ra hình đẹp hơn nhiều, và đó chính là vấn đề: phần đẹp thêm đó có được nhờ cắt bớt dữ liệu chứ không phải nhờ thị trường.
Ba câu hỏi để tự kiểm một kênh vừa vẽ:
- Có phải tôi đã dịch đường đi vài lần cho tới khi nó trông vừa mắt không? Kênh phải xuất hiện từ dữ liệu, không phải từ nhiều lần thử.
- Nếu che phần bên phải đồ thị đi, kênh này có còn vẽ ra được không? Kênh nào chỉ dựng được khi đã nhìn thấy toàn bộ đoạn giá thì nó là mô tả quá khứ, không dùng được cho hiện tại.
- Kênh này có bao nhiêu điểm chạm thật? Ba là mức tối thiểu, và điểm thứ tư trở đi mới đáng gọi là bằng chứng.
Kênh nói gì và không nói gì
Kênh giá mô tả một điều duy nhất: trong đoạn vừa rồi, giá dao động với biên độ khá đều quanh một hướng đi.
Nó không nói giá sẽ chạm biên rồi quay đầu. Nó không nói khi nào kênh kết thúc. Nó cũng không nói kênh này đáng tin hơn kênh của cổ phiếu khác.
Chỗ hữu ích thật của kênh nằm ở hai việc khiêm tốn hơn nhiều. Thứ nhất, nó cho một khung tham chiếu để nhận ra khi nào nhịp đi thay đổi: giá đang tôn trọng kênh suốt hai tháng rồi đột nhiên không còn tôn trọng nữa là một thông tin, dù bản thân thông tin đó chưa nói hướng. Thứ hai, nó buộc người đọc đồ thị phải nhìn cả đoạn thay vì nhìn từng phiên.
Khi giá ra khỏi kênh
Giá chọc ra ngoài biên kênh liên tục, phần lớn không có ý nghĩa gì.
Phân biệt nằm ở hai chỗ. Giá đóng cửa: bóng nến thò ra ngoài rồi thân đóng lại trong kênh là chuyện bình thường của một phiên biến động, còn thân nến đóng cửa hẳn bên ngoài là chuyện khác. Và hai phiên tiếp theo: giá đi tiếp theo hướng vừa vượt, hay quay về trong kênh.
Cây nến vượt biên tự nó gần như không nói gì. Thứ nói lên điều gì đó là cái xảy ra sau nó.
Một kênh bị phá cũng không tự động biến thành kênh mới theo hướng ngược lại. Sau khi giá thoát ra, giai đoạn tiếp theo có thể là đi ngang lộn xộn một thời gian dài, không có kênh nào vẽ được. Đó là trạng thái bình thường của thị trường, và cố vẽ một kênh lên nó là quay lại đúng cái bẫy ở mục trên.
Ở thị trường Việt Nam, kênh giá vướng gì
Ba điều làm kênh trên đồ thị cổ phiếu Việt Nam khác với hình trong sách nước ngoài.
Biên độ dao động chặn nhịp lại. HOSE giới hạn ±7% mỗi phiên, HNX ±10%, UPCoM ±15% theo quy chế giao dịch của hai sở. Một tin đủ mạnh để đẩy giá đi 20% sẽ bị chia thành nhiều phiên trần hoặc sàn liên tiếp, tạo ra chuỗi nến trông rất đều đặn. Cái đều đặn đó là sản phẩm của luật giao dịch chứ không phải của cung cầu, và nó khiến kênh trông chuẩn hơn thực chất.
Chu kỳ thanh toán làm chậm nhịp phản ứng. Cổ phiếu mua hôm nay không bán ra được ngay trong phiên, nên phản ứng của người tham gia luôn trễ vài phiên so với sự kiện. Nhịp dao động vì thế dài hơn và ít mượt hơn so với thị trường cho phép giao dịch trong ngày.
Thanh khoản mỏng làm kênh mất nghĩa. Trên cổ phiếu chỉ khớp vài chục nghìn đơn vị mỗi phiên, một lệnh lớn đủ sức tạo ra đỉnh hoặc đáy mà đường kênh sẽ neo vào. Kênh dựng trên những điểm như vậy phản ánh một lệnh cụ thể, không phản ánh trạng thái cung cầu.
Thứ mang về được
Kênh giá là công cụ mô tả, không phải công cụ dự báo. Giá trị của nó nằm ở chỗ buộc người đọc đồ thị nhìn cả đoạn và nhận ra khi nhịp thay đổi.
Hai điều đáng nhớ khi dựng: đường thứ hai luôn là bản sao song song chứ không phải một đường vẽ riêng, và một kênh phải xuất hiện từ dữ liệu chứ không phải từ nhiều lần dịch tới dịch lui cho vừa mắt. Kênh nào phải ép mới vừa thì thị trường đang nói rằng nó không có kênh nào cả.




