Bạn thấy một phiên khối lượng vọt lên gấp đôi và muốn biết phiên đó đẩy giá đi xa tới đâu. Quy luật nỗ lực và kết quả Wyckoff trả lời câu hỏi đó bằng cách đo mối tương quan giữa khối lượng mua bán và mức biến động giá. Bạn có thể quan sát mối tương quan này ở hai quy mô: từng phiên giao dịch hoặc từng sóng giá. Bài viết này nằm ở vị trí thứ chín trong tuyến bài về Wyckoff. Bài viết 3 quy luật Wyckoff từng nhắc qua nội dung này dưới dạng tóm tắt, bạn nên đọc trước để nắm mạch kiến thức.

Nỗ lực và kết quả Wyckoff là gì

Quy luật này so sánh khối lượng giao dịch với quãng giá đi được. Khối lượng thể hiện nỗ lực, còn giá là kết quả. Hai yếu tố cùng tăng báo hiệu xu hướng đang khoẻ. Khối lượng tăng cao nhưng giá nhích ít chứng tỏ có lực cản hấp thụ lệnh, cảnh báo giá sắp chững lại.

Bruce Fraser nêu rõ trên StockCharts rằng khối lượng tạo ra nỗ lực và diễn biến giá phản ánh kết quả. Ông kế thừa ba quy luật từ cuốn sách công bố năm 2007 của Hank Pruden, sau đó chỉnh sửa lại.

Bốn trường hợp khi đối chiếu khối lượng và giá

Đặt khối lượng và quãng giá cạnh nhau, Fraser và LuxAlgo đưa ra bốn cách đọc cụ thể:

Khối lượng Giá đi Cách đọc
Tăng Xa, đóng cửa gần đỉnh Hài hoà, xu hướng còn lực (Fraser)
Tăng mạnh Hẹp, không lập đỉnh mới Có lực hấp thụ, xu hướng mệt (Fraser)
Thấp Xa Đường đi trống, không ai cản; nhưng nhịp tăng vào kháng cự mà khối lượng thấp là thiếu cầu (LuxAlgo)
Thấp Lùi ít Nhịp lùi không ai bán mạnh, hợp với xu hướng đi tiếp (LuxAlgo)

LuxAlgo đưa ra hai lưu ý khi bạn áp dụng bảng so sánh này. Thứ nhất, bạn phải so sánh khối lượng với mức bình quân gần đây của chính cổ phiếu đó, không dùng con số tuyệt đối. Thứ hai, lệch pha giữa nỗ lực và kết quả chỉ có giá trị dự báo tại vùng giá quan trọng như hỗ trợ (vùng lực mua ngăn giá giảm), kháng cự (vùng lực bán cản giá tăng) hoặc điểm kiểm tra cung cầu. Nếu sự lệch pha xảy ra lơ lửng ở giữa vùng giao dịch, tín hiệu đó không có nhiều ý nghĩa.

Đo nỗ lực theo từng sóng giá với chỉ báo Weis

Quan sát từng phiên lẻ dễ khiến bạn bị nhiễu tín hiệu. David Weis, một chuyên gia giảng dạy phương pháp Wyckoff, đưa ra giải pháp cộng tổng khối lượng theo từng sóng giá trong cuốn Trades About to Happen. Theo tài liệu từ LuxAlgo, giá được chia thành các sóng tăng và sóng giảm dựa trên một ngưỡng đảo chiều chọn trước. Sóng cũ duy trì cho đến khi giá đảo chiều đủ mức quy định. Tổng khối lượng của mọi phiên trong sóng đó được gộp lại thành một cột duy nhất.

Áp dụng phương pháp này lên vùng tích luỹ mẫu 45 phiên với ngưỡng đảo chiều 2 điểm, thị trường xuất hiện mười sóng giá:

Đường giá vùng tích luỹ mẫu chia thành mười sóng xanh đỏ xen kẽ; bên dưới mỗi sóng một cột tổng khối lượng: sóng giảm tới SC 13,7, ba sóng lên trong vùng 4,4, 2,6, 2,5, sóng lên từ Spring tới SOS 10,2, nhịp lùi về LPS 2,2, sóng cuối 7,9
Mười sóng của vùng tích luỹ mẫu, ngưỡng đảo chiều 2 điểm
Sóng Giá Điểm Khối lượng Khối lượng mỗi điểm
Giảm tới SC 120 xuống 96 24 13,7 0,57
Lên tới AR 96 lên 108 12 4,4 0,37
Lên trong pha B 97,5 lên 107 9,5 2,6 0,27
Lên trong pha B 99 lên 107,5 8,5 2,5 0,29
Lên từ Spring tới SOS 94,5 lên 111 16,5 10,2 0,62
Lùi về LPS 111 xuống 106,5 4,5 2,2 0,49
Lên từ LPS 106,5 lên 120 13,5 7,9 0,59

Bảng trên giữ lại sóng giảm đầu tiên tới vùng SC (thời điểm lực bán tháo dâng cao đẩy giá xuống đáy), cùng các sóng tăng và nhịp lùi về LPS (điểm hỗ trợ cuối cùng trước khi giá bứt phá). Ba sóng giảm trong pha B đã xuất hiện ở bài quy luật Wyckoff.

Nguy cơ bẫy số liệu khi chia tỷ lệ khối lượng trên điểm số

Cột cuối cùng phản ánh phép tính phổ biến: lấy tổng khối lượng chia cho số điểm giá đi được. Các sóng tăng trong vùng tích luỹ tốn từ 0,27 đến 0,37 đơn vị khối lượng cho mỗi điểm giá. Tuy nhiên, sóng tăng từ Spring (nhịp rũ bỏ cuối cùng ép nhà đầu tư yếu tâm lý bán ra) lên SOS (tín hiệu bứt phá thể hiện sức mạnh) lại tốn tới 0,62 đơn vị khối lượng trên một điểm. Con số này cao gấp đôi các sóng trước và vượt cả sóng bán tháo xuống SC.

Nếu chỉ nhìn vào tỷ lệ này, bạn sẽ kết luận sóng SOS có nỗ lực lớn nhưng kết quả kém, nghĩa là lực bán đang hấp thụ lực mua. Kết luận đó đi ngược Fraser, người coi nhịp tăng rời vùng tích luỹ với khối lượng lớn và biên độ giá rộng là nhịp tăng khoẻ. Mâu thuẫn nằm ở việc dùng phép chia. Khi đặt hai dữ liệu cạnh nhau thay vì chia tỷ lệ, sóng SOS có khối lượng 10,2, cao gấp hơn bốn lần sóng lên trước đó (2,5). Quãng đường đi được đạt 16,5 điểm, gần gấp đôi mức 8,5 điểm của sóng trước. Cả nỗ lực lẫn kết quả cùng tăng. Đây là trạng thái hài hoà. Phép chia tỷ lệ chỉ cho thấy kết quả tăng chậm hơn nỗ lực.

Điểm bất thường xuất hiện bên trong nhịp tăng SOS

Mổ xẻ sóng SOS ra từng phiên giao dịch cụ thể giúp bạn thấy sự lệch pha thực sự.

Tám cặp cột cho phiên 31 tới 38: khối lượng 1,4, 1,6, 1,8, 2,0, 1,9 rồi 0,8, 0,7, 0,7; điểm đi được +3,5, +3, +3, +3, +2 rồi -2, -2, -0,5; phiên 35 ghi SOS 111, phiên 38 ghi LPS 106,5
Phiên 31 tới 38: khối lượng tăng, quãng giá hẹp lại

Từ phiên 31 đến phiên 35, khối lượng giao dịch liên tục tăng từ 1,4 lên 2,0 rồi duy trì ở mức 1,9. Trong khi đó, quãng đường giá nhích được mỗi phiên lại thu hẹp dần: từ 3,5 điểm xuống 3 điểm, rồi phiên 35 chỉ còn 2 điểm. Phiên 35 ngốn khối lượng gần như lớn nhất sóng nhưng lại mang lại quãng tăng nhỏ nhất. Fraser đọc biên độ giá hẹp lại giữa lúc khối lượng lên cao là đà tăng đang mất sức.

Sự bất thường này xuất hiện ở mức giá 111, ngay trên đỉnh AR 108 (nhịp hồi phục tự nhiên), tức kháng cự cũ của vùng. Giá sau đó điều chỉnh ba phiên về điểm LPS tại 106,5. Khối lượng ở ba phiên điều chỉnh này giảm xuống mức 0,7 đến 0,8 mỗi phiên, bằng khoảng nửa mức 1,46 mỗi phiên của sóng SOS. LuxAlgo coi nhịp lùi khối lượng thấp, mất ít điểm là hợp với xu hướng đi tiếp. Xu hướng tăng ngay sau đó quay lại, đẩy giá thẳng lên mức 120.

Hiện tượng lệch pha ở phiên 35 chỉ cảnh báo một nhịp nghỉ tạm thời chứ không báo hiệu giá đổi chiều giảm sâu. LuxAlgo lưu ý rằng bất thường giữa khối lượng và giá chỉ cho biết đường đi của giá gặp lực cản. Giá có thể dừng một nhịp rồi tăng tiếp khi lực bán đối ứng bị quét sạch. Bạn cần chờ các phiên tiếp theo để xác nhận hướng đi.

Rủi ro biến dạng biểu đồ do cài đặt ngưỡng đảo chiều

Phương pháp sóng Weis yêu cầu bạn tự cài đặt tham số ngưỡng đảo chiều. Trên vùng dữ liệu mẫu, các mức ngưỡng 2, 3 hoặc 4 điểm đều cho ra mười sóng giống nhau. Nếu bạn thay đổi mức ngưỡng này ra ngoài khoảng trên, hình dáng các sóng sẽ thay đổi hoàn toàn:

  • Ngưỡng 1 điểm tách phiên kiểm tra nguồn cung thành một sóng riêng: giảm 1 điểm với khối lượng 0,6. Sóng SOS còn lại bắt đầu từ 96,5, đi được 14,5 điểm với khối lượng 8,7.
  • Ngưỡng 5 điểm gộp ba sóng cuối thành một sóng tăng kéo dài từ 94,5 lên 120 với quãng đường 25,5 điểm và tổng khối lượng 20,3. Nhịp điều chỉnh về LPS hoàn toàn biến mất trên biểu đồ.

LuxAlgo nhấn mạnh rằng việc đổi ngưỡng cài đặt sẽ làm thay đổi lịch sử các cột sóng. Hai nhà đầu tư sử dụng hai mức ngưỡng khác nhau sẽ nhìn thấy hai kịch bản khác nhau. Đồng thời, cột sóng hiện tại liên tục biến động và chưa cố định cho tới khi giá đảo chiều đủ mức quy định để kết thúc sóng đó.

Những giới hạn của quy luật nỗ lực và kết quả

Các tài liệu không đưa ra một công thức số học cố định nào để định nghĩa thế nào là khối lượng lớn hay biên độ hẹp. Tài liệu của LuxAlgo yêu cầu bạn tự so sánh với mức bình quân gần nhất. Fraser khẳng định các ví dụ ông đưa ra chỉ mang tính minh hoạ và thực tế đòi hỏi phân tích thêm nhiều yếu tố khác.

Quy luật này đòi hỏi dữ liệu khối lượng phải phản ánh đúng thực tế giao dịch. LuxAlgo lưu ý tại các thị trường mà dữ liệu chỉ đếm số lượng giao dịch phát sinh thay vì tổng số cổ phiếu mua bán thực sự, cột khối lượng chỉ phản ánh mức độ sôi động.

Mọi số liệu trong bài viết được tính toán trên vùng giá mẫu dựa trên giá đóng cửa. Trong thực tế, Fraser đánh giá kết quả dựa trên cả biên độ giá cao nhất, thấp nhất trong phiên và vị trí giá đóng cửa so với biên độ đó. Đọc chi tiết từng phiên theo biên độ và vị trí đóng cửa là việc của phương pháp VSA, kỹ thuật phân tích biến động giá kết hợp khối lượng giao dịch.

Đọc tiếp trong tuyến Wyckoff

Phép thử thứ ba trong bài 9 phép thử Wyckoff kiểm tra khối lượng tăng khi giá hồi và giảm khi giá lùi. Đó chính là quy luật này viết thành điều kiện giao dịch. Cách nhận diện giá và khối lượng di chuyển ngược hướng nhau trên một xu hướng dài được trình bày chi tiết tại bài phân kỳ giá và khối lượng. Các khái niệm như SC, AR, Spring, SOS, LPS được giải thích cụ thể trong bài tích luỹ Wyckoff. Toàn bộ nội dung của tuyến bài đều xoay quanh bài trụ phương pháp Wyckoff.