Bạn đã nhận ra một vùng tích luỹ, gọi được tên các mốc quan trọng, và câu hỏi còn lại là lúc nào bạn có đủ bằng chứng để giao dịch. 9 phép thử Wyckoff là danh sách kiểm tra giúp bạn đánh giá điều đó thay vì dựa vào một tín hiệu đơn lẻ. Bài này nằm ở vị trí thứ tám trong tuyến bài Wyckoff. Bạn nên đọc bài tích luỹ Wyckoff trước, vì các điều kiện dưới đây sẽ được chấm trực tiếp trên vùng tích luỹ mẫu của bài đó.

9 phép thử Wyckoff là gì

Chín phép thử Wyckoff là hai danh sách kiểm tra khi mua hoặc bán cổ phiếu. Bộ danh sách gồm chín điều kiện về mục tiêu giá, khối lượng, cấu trúc đỉnh đáy, sức mạnh so với thị trường và tỷ lệ lời trên rủi ro. Chúng giúp bạn nhận biết vùng đi ngang sắp kết thúc chưa.

Bruce Fraser viết trên StockCharts rằng chín phép thử mua và chín phép thử bán tuân theo ba quy luật cơ bản của Wyckoff. Công cụ dùng để chấm là đồ thị thanh, dạng đồ thị hiển thị giá mở, cao, thấp, đóng của từng chu kỳ, cùng đồ thị điểm và hình, dạng đồ thị Point and Figure chỉ ghi nhận biến động giá mà bỏ qua yếu tố thời gian. LuxAlgo coi những điều kiện này là bằng chứng hội tụ để ra quyết định chứ không phải tín hiệu kích hoạt tự động.

Danh sách chín phép thử mua

StockCharts ChartSchool in danh sách dưới đây, phỏng theo cuốn sách The Three Skills of Top Trading của Henry Pruden xuất bản năm 2007. Cột cuối hiển thị loại đồ thị dùng để chấm từng điều kiện.

# Phép thử mua Chấm trên
1 Mục tiêu giảm giá đã đạt Điểm và hình
2 Có hỗ trợ sơ khởi (PS), cao trào bán (SC) và kiểm tra lại (ST) Thanh và điểm và hình
3 Khối lượng tăng khi giá hồi, giảm khi giá điều chỉnh Thanh
4 Đà giảm bị bẻ gãy, tức đường xu hướng giảm bị xuyên thủng Thanh hoặc điểm và hình
5 Đáy cao dần Thanh hoặc điểm và hình
6 Đỉnh cao dần Thanh hoặc điểm và hình
7 Cổ phiếu mạnh hơn thị trường: tăng nhạy hơn khi chỉ số hồi, chống chịu tốt hơn khi chỉ số giảm Thanh
8 Nền giá đã hình thành, tức một vùng đi ngang Thanh hoặc điểm và hình
9 Lời ước tính gấp ít nhất ba lần mức lỗ nếu chạm điểm dừng lỗ ban đầu Điểm và hình và thanh

LuxAlgo lưu ý cách diễn đạt danh sách có thể thay đổi tùy nguồn tài liệu. Bạn nên hiểu đây là khung tư duy thay vì một công thức cố định. Tài liệu của Chứng khoán DSC không liệt kê đủ chín phép thử nhưng vẫn đặt ra mức lợi nhuận trên rủi ro tối thiểu là 3:1, khớp với phép thử thứ chín.

Chấm chín phép thử mua trên vùng tích luỹ mẫu

Vùng mẫu gồm 45 phiên dựng bằng số, dùng chung với bài trụ phương pháp Wyckoff. Giá giảm từ 120 về nhịp SC, cao trào bán, tại mức 96 ở phiên 9. Sau đó giá đi ngang trong khoảng 96 tới 108, thủng xuống 94,5 ở phiên 28 (Spring, cú rũ bỏ giá xuống dưới hỗ trợ), rồi tăng lên 120. Bài viết chấm điểm tại ba thời điểm mua phổ biến. Đó là phiên Test (kiểm tra lại nguồn cung bằng một đợt giảm nhẹ) ở mức 96,5 tại phiên 30; phiên SOS (tín hiệu thể hiện sức mạnh tăng giá vượt kháng cự) ở mức 111 tại phiên 35; và phiên LPS (điểm hỗ trợ cuối cùng trước đà tăng chính) ở mức 106,5 tại phiên 38.

Với phép thử thứ chín, bạn cần xác định điểm dừng lỗ và mục tiêu giá. Điểm dừng lỗ đặt tại đáy Spring 94,5. Mục tiêu lấy từ phép đếm trên đồ thị điểm và hình trong bài quy luật Wyckoff: mỗi ô 1 điểm, biên độ đảo chiều 3 ô, cho mục tiêu tối thiểu 121,5 và tối đa 133.

Bên trái: đường giá vùng tích luỹ mẫu với ba chấm vàng Test 96,5, SOS 111, LPS 106,5, đường đỏ dừng lỗ 94,5 và đường xanh mục tiêu 121,5. Bên phải: số phép thử qua lần lượt 5, 5, 6 trên 7, và tỷ lệ lời trên rủi ro 12,5, 0,64, 1,25 so với ngưỡng 3
Chín phép thử mua ở ba thời điểm của vùng mẫu
# Phép thử Test, phiên 30 SOS, phiên 35 LPS, phiên 38
1 Mục tiêu giảm đã đạt Không chấm được Không chấm được Không chấm được
2 PS, SC, ST Qua Qua Qua
3 Khối lượng thuận chiều tăng Qua Qua Qua
4 Đà giảm bị bẻ gãy Qua Qua Qua
5 Đáy cao dần Trượt Trượt Qua
6 Đỉnh cao dần Trượt Qua Qua
7 Mạnh hơn thị trường Không chấm được Không chấm được Không chấm được
8 Nền giá đi ngang Qua Qua Qua
9 Lời gấp ba rủi ro Qua (12,5) Trượt (0,64) Trượt (1,25)
Tổng 5/7 5/7 6/7

Mỗi kết quả Qua hay Trượt đều dựa vào số liệu từ vùng mẫu.

Bốn phép thử đạt điều kiện sớm

Phép thử 2 đạt yêu cầu ngay từ phiên 15. Nhịp PS, điểm hỗ trợ sơ khởi khi dòng tiền lớn bắt đầu mua đỡ giá, xuất hiện ở phiên 7. Nhịp SC xuất hiện ở phiên 9. Nhịp ST, nhịp kiểm tra thứ cấp lại vùng đáy SC, đạt đáy 97,5 ở phiên 15 và cao hơn đáy SC. Phép thử 8 giữ trạng thái đạt trong suốt pha B. Từ phiên 9 tới phiên 33, giá đóng cửa liên tục nằm trong dải 96 đến 108, ngoại trừ cú rũ bỏ Spring.

Phép thử 3 được đo bằng khối lượng giao dịch trung bình. Trong 12 phiên thuộc pha B, các phiên tăng điểm đạt khối lượng trung bình 0,85, còn phiên giảm là 0,75. Từ phiên 31 đến phiên 38, sau nhịp Test, chênh lệch này rộng hơn hẳn: phiên tăng đạt 1,74 còn phiên giảm chỉ đạt 0,73.

Phép thử 4 phụ thuộc vào góc nhìn cá nhân. Giá rơi chín phiên liền từ 120 xuống 96 rồi xuất hiện nhịp AR, nhịp phục hồi tự động do lực mua bắt đáy, lên 108 ở phiên 12. Cú tăng 12 điểm đó bẻ gãy đường xu hướng giảm dựng từ đợt rơi trước. Tuy nhiên, vị trí đặt đường xu hướng lại do mỗi người tự chọn.

Phép 5 và 6: đỉnh đáy chỉ đẹp khi giá đã đi xa

Các đáy của vùng mẫu xuất hiện lần lượt tại 96, 97,5 và 99. Cú Spring ở phiên 28 bất ngờ chọc thủng toàn bộ dải đáy này xuống 94,5. Sau Spring, nhịp Test dừng ở 96,5. Mức này cao hơn 94,5 nhưng vẫn thấp hơn đáy SC 96. Chuỗi đáy cao dần chỉ hình thành rõ ràng tại phiên LPS 106,5 ở phiên 38.

Cấu trúc đỉnh còn trễ hơn. Nhịp hồi AR chạm 108. Hai đỉnh tiếp theo trong pha B chỉ đạt 107 và 107,5. Đỉnh giá rõ ràng thấp dần. Phải tới phiên 34 khi giá đóng cửa đạt 109 và vượt mốc 108, phép thử 6 mới đạt. Lúc này giá đã đi xa khỏi đáy Spring tới 14,5 điểm.

Phép 9: điểm danh sách tự mâu thuẫn

Tại phiên Test 96,5, mức rủi ro tính đến điểm dừng lỗ 94,5 là 2 điểm. Mức lời tính đến mục tiêu 121,5 là 25 điểm. Tỷ lệ lời trên rủi ro đạt 12,5. Phép thử 9 đạt dễ dàng, nhưng phép thử 5 và 6 lại trượt. Một điểm vướng nữa là StockCharts đếm mục tiêu điểm và hình từ vùng LPS. Con số 121,5 thực tế chỉ tính được từ phiên 38, tức tám phiên sau nhịp Test.

Tại phiên SOS 111, phép thử 6 vừa đạt thì khoảng cách dừng lỗ đã dãn rộng ra 16,5 điểm. Mức lời còn lại chỉ vỏn vẹn 10,5 điểm, cho tỷ lệ 0,64. Tại phiên LPS 106,5, rủi ro là 12 điểm còn lời là 15 điểm, tương ứng tỷ lệ 1,25. Kể cả khi bạn dùng mục tiêu giá tối đa 133, tỷ lệ này cũng chỉ đạt 1,33 ở SOS và 2,21 ở LPS. Cả hai đều dưới ngưỡng 3.

Nếu muốn phép 9 đạt tại LPS với mục tiêu 121,5, bạn buộc phải nâng điểm dừng lỗ lên từ 101,5 trở lên, nằm ngay giữa vùng đi ngang. Với mục tiêu 133, điểm dừng lỗ phải từ 97,7 trở lên, cao hơn đáy Test 96,5. Việc phép thử đạt hay trượt phụ thuộc hoàn toàn vào cách bạn đặt dừng lỗ. Bài kế hoạch giao dịch phân tích riêng về kỹ thuật này.

Đây là điểm mấu chốt của bài viết. Phép 6 đòi hỏi giá tăng cao để xác nhận cấu trúc đỉnh dần nâng lên. Phép 9 lại yêu cầu giá nằm thấp để đảm bảo biên độ lợi nhuận. Trên vùng mẫu này, bạn không thể tìm thấy thời điểm nào thỏa mãn đủ bảy phép thử cùng lúc.

Bộ phép thử bán tại vùng phân phối

Danh sách phép thử bán của StockCharts hoạt động như một bản đối ứng: mục tiêu tăng giá đã đạt; khối lượng giảm khi giá hồi và tăng khi giá giảm; xuất hiện cung sơ khởi và cao trào mua; cổ phiếu yếu hơn chỉ số chung; đường xu hướng tăng bị phá vỡ; đỉnh thấp dần; đáy thấp dần; vùng đỉnh đi ngang; và tỷ lệ lời trên rủi ro đạt tối thiểu 3:1.

Sự giằng co giữa cấu trúc đỉnh đáy và tỷ lệ rủi ro tiếp tục lặp lại. Cấu trúc đáy thấp dần chỉ hiện ra khi giá đã rơi sâu khỏi vùng đỉnh. Lúc đó khoảng cách còn lại tới mục tiêu giảm không còn đủ hấp dẫn. Bạn có thể xem lại cấu trúc vùng đỉnh trong bài phân phối Wyckoff.

Nhược điểm và hạn chế trong thực tế

Hai trong số chín phép thử không thể chấm nếu chỉ nhìn vào một biểu đồ riêng lẻ. Phép thử 1 đòi hỏi mục tiêu đếm từ vùng phân phối trước đó. Phép thử 7 yêu cầu bạn so sánh đồ thị cổ phiếu với chỉ số thị trường. Khi phân tích thực tế, bạn phải chuẩn bị thêm hai dữ liệu này. LuxAlgo chỉ ra rằng sức mạnh tương đối và độ lớn của nền giá là hai tiêu chí dễ trượt nhất.

LuxAlgo cũng nhấn mạnh các phép thử mang tính định tính cao. Nhiều điều kiện phụ thuộc vào góc nhìn chủ quan. Hai nhà phân tích kinh nghiệm có thể chấm ra hai kết quả khác nhau trên cùng một biểu đồ. Điều này khiến bộ phép thử khó đưa vào kiểm định dữ liệu lịch sử tự động. Về số lượng tiêu chí cần đạt, phương pháp Wyckoff truyền thống yêu cầu vượt qua toàn bộ danh sách trước khi giải ngân lớn, trong khi nhiều giao dịch viên thực tế chấp nhận mức đạt một phần.

Bảng điểm 5/7 hay 6/7 ở trên gắn liền với một vùng giá giả định, một cách đặt điểm dừng lỗ và một phương pháp đếm điểm và hình cụ thể. Chỉ cần bạn thay đổi một trong ba yếu tố đó, kết quả sẽ khác. Giá trị của bộ danh sách nằm ở việc giúp bạn nhận ra sự mâu thuẫn giữa việc chờ xác nhận xu hướng và việc tối ưu tỷ lệ lợi nhuận.

Đọc tiếp trong tuyến Wyckoff

Bài trước, Composite Man, trả lời câu hỏi dòng tiền lớn đang tính toán điều gì. Chín phép thử là công cụ giúp bạn cụ thể hóa câu hỏi đó thành các điều kiện quan sát được. Bài tiếp theo sẽ đi sâu vào quy luật nỗ lực và kết quả thông qua khối lượng giao dịch, vốn là cơ sở cho phép thử thứ ba. Bạn có thể quay lại bài trụ phương pháp Wyckoff để hệ thống lại toàn bộ kiến thức.