Mọi công cụ đọc xu hướng trên trang này đều quay về cùng một nền móng: lý thuyết Dow. Bài viết này tổng hợp sáu nguyên lý gốc, rồi đem cái thước quan trọng nhất, thước điều chỉnh từ 1/3 tới 2/3, đặt lên đồ thị ba mươi phiên. Cái thước này đòi hỏi một yếu tố mà đồ thị ngắn không đáp ứng được: thời gian.
Bài viết thuộc tuyến phân tích kỹ thuật từ A tới Z, nên bạn hãy đọc bài trụ trước.
Lý thuyết Dow là gì
Lý thuyết Dow là nền tảng phân tích kỹ thuật dựa trên các bài viết của Charles Dow giai đoạn 1900 tới 1902. Phương pháp này chia thị trường thành ba cấp xu hướng, khẳng định giá phản ánh mọi thông tin và xu hướng tiếp diễn cho đến khi có tín hiệu đảo chiều rõ ràng.
Theo StockCharts, Charles Dow không tự viết các khái niệm này thành lý thuyết. William Hamilton phát triển tiếp các ý tưởng qua các bài báo từ năm 1902 tới năm 1929. Đến năm 1932, Robert Rhea mới hệ thống lại thành cuốn sách The Dow Theory dựa trên 252 bài xã luận.
Sáu nguyên lý của nền tảng này
DNSE hệ thống hóa sáu nguyên lý cơ bản:
| Nguyên lý | Nội dung | Đọc thêm |
|---|---|---|
| Thị trường phản ánh tất cả | Mọi thông tin đều phản ánh vào giá | Phân tích kỹ thuật là gì |
| Ba cấp xu hướng | Xu hướng chính, điều chỉnh cấp 2, dao động nhỏ | Phần tiếp theo |
| Ba giai đoạn của xu hướng chính | Tích luỹ, bùng nổ và phân phối | Tuyến bài về phương pháp Wyckoff |
| Khối lượng xác nhận xu hướng | Khối lượng tăng theo chiều xu hướng chính | Khối lượng xác nhận xu hướng |
| Các chỉ số xác nhận lẫn nhau | Hai chỉ số cùng đưa ra tín hiệu đồng nhất | Đoạn dưới |
| Xu hướng tiếp diễn tới khi đảo chiều | Không đoán đỉnh đáy, chờ tín hiệu xác nhận | Xác định xu hướng |
Nguyên lý thứ năm áp dụng với hai chỉ số do Charles Dow lập ra: chỉ số công nghiệp và chỉ số đường sắt, nay là chỉ số vận tải. StockCharts ghi nhận rằng tín hiệu mua hoặc bán của xu hướng chính chỉ hợp lệ khi cả hai chỉ số cùng đưa ra tín hiệu đồng nhất.
Ba cấp xu hướng và thước 1/3 tới 2/3
StockCharts xác định xu hướng chính kéo dài từ vài tháng đến vài năm. Nhịp điều chỉnh cấp 2, tức đợt giá đi ngược lại xu hướng chính, kéo dài từ vài tuần tới vài tháng. Dao động nhỏ cấp 3 chỉ diễn ra từ vài giờ tới vài ngày và có rất ít giá trị để dự báo. DNSE đưa ra con số khác: xu hướng chính kéo dài một tới ba năm, điều chỉnh cấp 2 một tới ba tháng, còn dao động nhỏ dưới ba tuần.
Hai nguồn lệch nhau vì Charles Dow không để lại quy chuẩn số liệu chính thức. Về độ sâu, StockCharts nêu nhịp điều chỉnh cấp 2 thường lấy lại từ 1/3 tới 2/3 nhịp chính trước đó, phổ biến nhất là 50%. Công cụ Fibonacci thoái lui cũng lấy con số 50% từ chính quy tắc này.
Đặt thước đo lên đồ thị ba mươi phiên
Đồ thị dùng chung của các tuyến bài có một chân tăng từ 102,8 ở phiên 13 lên 116 ở phiên 17. Ba mức tính theo thước điều chỉnh nằm tại 111,6, 109,4 và 107,2. Giá lùi về 103 ở phiên 24. Nhịp lùi này lấy lại 98,5% chân tăng, vượt xa mức 2/3.
Đọc theo độ sâu, nhịp lùi này quá sâu nên không thể coi là điều chỉnh cấp 2. Đọc theo thời gian, chân tăng chỉ kéo dài bốn phiên và nhịp lùi kéo dài bảy phiên, cộng lại chưa tròn ba tuần. DNSE xếp chuyển động dưới ba tuần vào cấp dao động nhỏ, và thước 1/3 tới 2/3 không thiết kế cho dao động cấp 3. Bài giao dịch pullback từng đo cùng nhịp lùi này bằng thước khác và cũng đưa ra hai kết luận.
Kéo hai thanh dưới đây để thấy độ sâu và độ dài là hai điều kiện riêng biệt.




