Bỏ qua để tới nội dung chính

Lý thuyết Dow: sáu nguyên lý và cái thước chỉ đo được nhịp nhiều tuần

Lý thuyết Dow chia giá thành ba cấp xu hướng và đo điều chỉnh bằng thước 1/3 tới 2/3. Thước đó cần cả độ sâu lẫn độ dài: nhịp lùi 98,5% trong 7 phiên không đo được.

Ban Biên Tập Học Đầu Tư5 phút đọc
Đường giá đi lên trên nền tối với ba lớp: đường đứt xanh là xu hướng cấp 1, đường vàng gãy khúc có hai nhịp điều chỉnh cấp 2, đường xám gợn sóng là dao động cấp 3; chữ lớn bên phải ghi 1/3 tới 2/3 và độ dài
Đường giá đi lên trên nền tối với ba lớp: đường đứt xanh là xu hướng cấp 1, đường vàng gãy khúc có hai nhịp điều chỉnh cấp 2, đường xám gợn sóng là dao động cấp 3; chữ lớn bên phải ghi 1/3 tới 2/3 và độ dài

Mọi công cụ đọc xu hướng trên trang này đều quay về cùng một nền móng: lý thuyết Dow. Bài viết này tổng hợp sáu nguyên lý gốc, rồi đem cái thước quan trọng nhất, thước điều chỉnh từ 1/3 tới 2/3, đặt lên đồ thị ba mươi phiên. Cái thước này đòi hỏi một yếu tố mà đồ thị ngắn không đáp ứng được: thời gian.

Bài viết thuộc tuyến phân tích kỹ thuật từ A tới Z, nên bạn hãy đọc bài trụ trước.

Lý thuyết Dow là gì

Lý thuyết Dow là nền tảng phân tích kỹ thuật dựa trên các bài viết của Charles Dow giai đoạn 1900 tới 1902. Phương pháp này chia thị trường thành ba cấp xu hướng, khẳng định giá phản ánh mọi thông tin và xu hướng tiếp diễn cho đến khi có tín hiệu đảo chiều rõ ràng.

Theo StockCharts, Charles Dow không tự viết các khái niệm này thành lý thuyết. William Hamilton phát triển tiếp các ý tưởng qua các bài báo từ năm 1902 tới năm 1929. Đến năm 1932, Robert Rhea mới hệ thống lại thành cuốn sách The Dow Theory dựa trên 252 bài xã luận.

Sáu nguyên lý của nền tảng này

DNSE hệ thống hóa sáu nguyên lý cơ bản:

Nguyên lý Nội dung Đọc thêm
Thị trường phản ánh tất cả Mọi thông tin đều phản ánh vào giá Phân tích kỹ thuật là gì
Ba cấp xu hướng Xu hướng chính, điều chỉnh cấp 2, dao động nhỏ Phần tiếp theo
Ba giai đoạn của xu hướng chính Tích luỹ, bùng nổ và phân phối Tuyến bài về phương pháp Wyckoff
Khối lượng xác nhận xu hướng Khối lượng tăng theo chiều xu hướng chính Khối lượng xác nhận xu hướng
Các chỉ số xác nhận lẫn nhau Hai chỉ số cùng đưa ra tín hiệu đồng nhất Đoạn dưới
Xu hướng tiếp diễn tới khi đảo chiều Không đoán đỉnh đáy, chờ tín hiệu xác nhận Xác định xu hướng

Nguyên lý thứ năm áp dụng với hai chỉ số do Charles Dow lập ra: chỉ số công nghiệp và chỉ số đường sắt, nay là chỉ số vận tải. StockCharts ghi nhận rằng tín hiệu mua hoặc bán của xu hướng chính chỉ hợp lệ khi cả hai chỉ số cùng đưa ra tín hiệu đồng nhất.

Ba cấp xu hướng và thước 1/3 tới 2/3

StockCharts xác định xu hướng chính kéo dài từ vài tháng đến vài năm. Nhịp điều chỉnh cấp 2, tức đợt giá đi ngược lại xu hướng chính, kéo dài từ vài tuần tới vài tháng. Dao động nhỏ cấp 3 chỉ diễn ra từ vài giờ tới vài ngày và có rất ít giá trị để dự báo. DNSE đưa ra con số khác: xu hướng chính kéo dài một tới ba năm, điều chỉnh cấp 2 một tới ba tháng, còn dao động nhỏ dưới ba tuần.

Một đường giá đi lên với ba lớp: đường đứt xanh là xu hướng cấp 1, đường vàng gãy khúc có hai nhịp điều chỉnh cấp 2 mỗi nhịp lấy lại khoảng một nửa, đường xám gợn sóng là dao động cấp 3; bên phải ghi thời gian mỗi cấp theo StockCharts và DNSE
Ba cấp xu hướng chồng lên nhau trên cùng một đường giá

Hai nguồn lệch nhau vì Charles Dow không để lại quy chuẩn số liệu chính thức. Về độ sâu, StockCharts nêu nhịp điều chỉnh cấp 2 thường lấy lại từ 1/3 tới 2/3 nhịp chính trước đó, phổ biến nhất là 50%. Công cụ Fibonacci thoái lui cũng lấy con số 50% từ chính quy tắc này.

Đặt thước đo lên đồ thị ba mươi phiên

Đồ thị dùng chung của các tuyến bài có một chân tăng từ 102,8 ở phiên 13 lên 116 ở phiên 17. Ba mức tính theo thước điều chỉnh nằm tại 111,6, 109,4 và 107,2. Giá lùi về 103 ở phiên 24. Nhịp lùi này lấy lại 98,5% chân tăng, vượt xa mức 2/3.

Đồ thị phiên 10 tới 30 với chân tăng từ 102,8 ở phiên 13 lên 116 ở phiên 17, dải vàng giữa hai mức 1/3 ở 111,6 và 2/3 ở 107,2, mức 1/2 ở 109,4; nhịp lùi xuống 103 ở phiên 24 lấy lại 98,5%; khung bên phải ghi theo độ sâu thì quá sâu cho điều chỉnh cấp 2, theo thời gian thì dưới 3 tuần thuộc thang cấp 3
Theo độ sâu thì quá sâu, theo thời gian thì quá ngắn

Đọc theo độ sâu, nhịp lùi này quá sâu nên không thể coi là điều chỉnh cấp 2. Đọc theo thời gian, chân tăng chỉ kéo dài bốn phiên và nhịp lùi kéo dài bảy phiên, cộng lại chưa tròn ba tuần. DNSE xếp chuyển động dưới ba tuần vào cấp dao động nhỏ, và thước 1/3 tới 2/3 không thiết kế cho dao động cấp 3. Bài giao dịch pullback từng đo cùng nhịp lùi này bằng thước khác và cũng đưa ra hai kết luận.

Kéo hai thanh dưới đây để thấy độ sâu và độ dài là hai điều kiện riêng biệt.

1001051101151/31/22/3102,8116103 · 98,5%cấp 3cấp 2cấp 1152163250số phiên của nhịp lùi, thang log · thang cấp theo DNSE
Theo độ sâu
sâu hơn 2/3
Theo thời gian
thang cấp 3
dưới 3 tuần

Lùi 98,5% trong 7 phiên: quá sâu cho điều chỉnh cấp 2, và theo thời gian thì thang cấp 3.

Thước 1/3 tới 2/3 chỉ nói về độ sâu. Dow xếp một nhịp vào cấp nào theo cả độ sâu lẫn độ dài, nên một nhịp lùi đúng 50% trong vài phiên vẫn chỉ là dao động cấp 3.

Chân tăng 102,8 lên 116 lấy từ ba mươi phiên dựng bằng số, cùng đồ thị với các bài trong tuyến price action. Thước 1/3 tới 2/3 theo StockCharts; thang thời gian theo DNSE, quy ra 5 phiên một tuần, 21 phiên một tháng, 250 phiên một năm.

Cả ba mươi phiên chỉ kéo dài khoảng sáu tuần. Theo thang đo của Dow, toàn bộ đồ thị đó nằm gọn trong một nhịp điều chỉnh cấp 2. Xu hướng chính đòi hỏi bạn quan sát trên đồ thị kéo dài nhiều tháng.

Những hạn chế thực tế của lý thuyết Dow

StockCharts dẫn một nghiên cứu tại Yale năm 1998 kiểm tra lại tín hiệu Dow từ năm 1929 tới tháng 9 năm 1998. Hệ thống vượt chiến lược mua và giữ khoảng 2% mỗi năm với rủi ro thấp hơn đáng kể.

Cùng nguồn đó nêu ba giới hạn. Tín hiệu chỉ xuất hiện sau khi nhịp mới đã chạy được một quãng, nên không thể mua đúng đáy hay bán đúng đỉnh. Hai chỉ số gốc không còn đại diện đầy đủ cho nền kinh tế hiện đại. Dow và Hamilton viết xã luận chứ không viết nghiên cứu.

DNSE bổ sung một giới hạn với người mua cổ phiếu lẻ: lý thuyết này đọc chỉ số, còn từng cổ phiếu có thể vận động ngược lại chỉ số.

Đọc tiếp trong tuyến

Nguyên lý đỉnh đáy của Dow sống tiếp trong cấu trúc thị trường của hành động giá (price action), còn ba giai đoạn tích luỹ, bùng nổ, phân phối là điểm xuất phát của Wyckoff. Muốn xem toàn bộ các nhóm công cụ phân tích kỹ thuật thì quay về bài trụ phân tích kỹ thuật là gì.

Câu hỏi thường gặp

Lý thuyết Dow có bao nhiêu nguyên lý?

Sáu, theo cách trình bày phổ biến trong tài liệu tiếng Việt như của DNSE: thị trường phản ánh tất cả, thị trường có ba xu hướng, xu hướng chính có ba giai đoạn, khối lượng xác nhận xu hướng, các chỉ số phải xác nhận lẫn nhau, và xu hướng còn hiệu lực cho tới khi có tín hiệu đảo chiều rõ ràng.

Điều chỉnh bao nhiêu phần trăm thì vẫn là điều chỉnh theo lý thuyết Dow?

Theo StockCharts, điều chỉnh cấp 2 thường lấy lại từ 1/3 tới 2/3 nhịp chính trước đó, phổ biến nhất là 50%, và kéo dài từ vài tuần tới vài tháng. Thước này cần cả hai điều kiện: một nhịp lùi 50% chỉ trong vài phiên vẫn là dao động cấp 3, không phải điều chỉnh cấp 2.

Lý thuyết Dow có còn đúng không?

StockCharts dẫn một nghiên cứu ở Yale năm 1998 kiểm lại tín hiệu Dow từ 1929 tới tháng 9/1998: hệ thống vượt chiến lược mua và giữ khoảng 2% mỗi năm với rủi ro thấp hơn đáng kể. Cùng nguồn đó nêu ba giới hạn: tín hiệu đến sau khi nhịp mới đã chạy, hai chỉ số gốc không còn đại diện cho nền kinh tế hiện đại, và Dow cùng Hamilton viết xã luận chứ không viết nghiên cứu.

Nguồn tham khảo

  1. [1]Dow Theory StockCharts ChartSchool
  2. [2]Lý thuyết Dow là gì? Nguyên lý cơ bản và các mặt hạn chế của lý thuyết Dow Chứng khoán DNSE, 27/10/2022

Tuyến bài · Phần 2/2

Phân tích kỹ thuật từ A đến Z

  1. 1Phân tích kỹ thuật là gì? Nền tảng và giới hạn của phương pháp
  2. 2Lý thuyết Dow: sáu nguyên lý và cái thước chỉ đo được nhịp nhiều tuần

Tác giả

Ban Biên Tập Học Đầu TưBan biên tập

Ban biên tập Học Đầu Tư chịu trách nhiệm thu thập, đối chiếu và biên tập toàn bộ nội dung trên trang. Chúng tôi ưu tiên nguồn sơ cấp — công bố thông tin của HOSE, HNX, UPCoM, báo cáo tài chính đã kiểm toán và số liệu của cơ quan quản lý — và luôn ghi rõ nguồn cho mọi số liệu xuất hiện trong bài.

  • Kiểm chứng nguồn sơ cấp
  • Không nhận tài trợ theo mã cổ phiếu

Nội dung được rà soát lần gần nhất ngày .

Bài viết liên quan