Phân tích kỹ thuật là gì? Câu hỏi này thường bị trả lời sai theo hai hướng trái ngược: hoặc bị coi là công cụ tiên tri giá, hoặc bị gạt bỏ như trò xem bói trên đồ thị. Cả hai cách hiểu đều dẫn tới sử dụng sai.
Bài viết này đặt nền tảng cho tuyến bài Phân tích kỹ thuật từ A đến Z: phương pháp này dựa trên giả định gì, gồm những gì, và quan trọng nhất là nó không làm được gì.
Phân tích kỹ thuật là gì?
Phân tích kỹ thuật là phương pháp nghiên cứu hành vi thị trường thông qua dữ liệu giá và khối lượng giao dịch trong quá khứ, nhằm đánh giá xác suất của các kịch bản giá trong tương lai.
Hãy chú ý cụm từ xác suất. Đây là điểm phân biệt người dùng phân tích kỹ thuật đúng cách với người dùng sai: mục tiêu không phải là biết giá sẽ đi đâu, mà là xác định được những tình huống trong đó phần thưởng kỳ vọng lớn hơn rủi ro chấp nhận.
Ba giả định nền tảng
Toàn bộ phân tích kỹ thuật đứng trên ba giả định. Hiểu chúng giúp bạn biết khi nào phương pháp này còn hiệu lực và khi nào không.
1. Giá phản ánh mọi thông tin
Giả định rằng mọi yếu tố (kết quả kinh doanh, tin vĩ mô, tâm lý đám đông) đều đã được phản ánh vào giá thông qua hành vi mua bán. Vì vậy nghiên cứu giá là đủ, không cần truy nguyên từng nguyên nhân.
Giới hạn của giả định này rõ nhất khi có thông tin chưa được công bố. Nếu một sự kiện lớn xảy ra ngoài giờ giao dịch, đồ thị hôm qua không chứa thông tin đó.
2. Giá vận động theo xu hướng
Giá có xu hướng duy trì hướng đi hiện tại cho tới khi có tín hiệu đảo chiều rõ ràng. Đây là cơ sở cho toàn bộ nhóm chiến lược theo xu hướng.
Giới hạn: thị trường không phải lúc nào cũng có xu hướng. Trong giai đoạn đi ngang, các công cụ theo xu hướng liên tục cho tín hiệu sai. Dân trong nghề gọi hiện tượng này là "cưa" tài khoản.
3. Lịch sử có xu hướng lặp lại
Vì hành vi con người trước tham lam và sợ hãi tương đối ổn định, các mô hình giá trong quá khứ có xu hướng tái diễn.
Giới hạn: "có xu hướng lặp lại" không phải "luôn lặp lại". Một mô hình đúng bảy trên mười lần vẫn là mô hình tốt, và bạn phải sống được với ba lần sai đó.
Các nhóm công cụ cốt lõi
Đồ thị nến Nhật
Mỗi cây nến thể hiện bốn mức giá trong một khoảng thời gian: mở cửa, đóng cửa, cao nhất và thấp nhất. Thân nến cho biết chênh lệch giữa mở và đóng cửa; bóng nến cho biết mức giá đã chạm tới nhưng không giữ được.
Giá trị thực sự của nến không nằm ở việc thuộc lòng tên các mẫu hình, mà ở chỗ nó cho bạn thấy cuộc giằng co giữa bên mua và bên bán trong từng phiên. Một cây nến có bóng dưới dài cho biết giá đã bị đẩy xuống sâu nhưng lực mua đã hấp thụ hết. Thông tin đó có ý nghĩa hơn cái tên gọi của mẫu nến.
Xu hướng, hỗ trợ và kháng cự
- Xu hướng tăng được nhận diện bằng chuỗi đỉnh sau cao hơn đỉnh trước và đáy sau cao hơn đáy trước. Xu hướng giảm thì ngược lại.
- Hỗ trợ là vùng giá mà lực mua từng đủ mạnh để chặn đà giảm. Kháng cự là vùng mà lực bán từng đủ mạnh để chặn đà tăng.
Điểm cần hiểu: hỗ trợ và kháng cự là vùng, không phải một mức giá chính xác. Việc vẽ một đường thẳng rồi kỳ vọng giá phản ứng đúng tại con số đó là cách hiểu máy móc.
Khối lượng giao dịch
Khối lượng là công cụ bị đánh giá thấp nhất trong khi lại quan trọng bậc nhất. Nó cho biết mức độ tham gia đứng sau một biến động giá.
Nguyên tắc nền tảng: biến động giá đi kèm khối lượng lớn đáng tin hơn biến động giá với khối lượng cạn kiệt. Một cú vượt kháng cự với khối lượng tăng vọt phản ánh sự đồng thuận thật; cùng cú vượt đó với khối lượng thấp thường là bẫy.
Chỉ báo kỹ thuật
Chỉ báo là các phép tính trên dữ liệu giá và khối lượng, chia thành hai nhóm chính:
- Nhóm theo xu hướng, gồm đường trung bình động và MACD, hoạt động tốt khi thị trường có xu hướng nhưng cho tín hiệu sai khi đi ngang.
- Nhóm động lượng, gồm RSI và Stochastic, đo tốc độ và mức độ của biến động giá, hữu ích để nhận diện trạng thái quá mua hoặc quá bán.
Điều quan trọng phải nhớ: mọi chỉ báo đều là hàm số của giá. Chúng không mang thông tin mới, chỉ trình bày lại dữ liệu giá dưới dạng dễ đọc hơn. Vì vậy chồng năm chỉ báo lên nhau không cho bạn năm góc nhìn độc lập.
Giới hạn cần thừa nhận
Đây là phần mà phần lớn tài liệu về phân tích kỹ thuật bỏ qua.
- Không có mô hình nào đúng mọi lúc. Bạn sẽ sai thường xuyên. Hệ thống giao dịch có lãi không phải hệ thống ít sai, mà là hệ thống mà những lần đúng đủ lớn để bù cho những lần sai.
- Việc vẽ mang tính chủ quan. Hai người nhìn cùng một đồ thị có thể vẽ ra hai đường xu hướng khác nhau. Hãy thừa nhận điều này thay vì tin rằng đồ thị của mình là khách quan.
- Tối ưu hoá quá mức là một cái bẫy. Chỉnh thông số chỉ báo cho khớp với dữ liệu quá khứ tạo ra hệ thống đẹp trên giấy và thua lỗ trong thực tế.
- Thanh khoản thị trường Việt Nam phân hoá mạnh. Với cổ phiếu vốn hoá nhỏ và thanh khoản thấp, đồ thị dễ bị chi phối bởi một vài lệnh lớn. Phân tích kỹ thuật cần lượng người tham gia đủ lớn mới có ý nghĩa thống kê.
- Nó không thay thế quản trị vốn. Một tín hiệu tốt với tỷ trọng vị thế sai vẫn dẫn tới cháy tài khoản. Chủ đề này được xử lý riêng trong tuyến bài Quản trị vốn và tâm lý giao dịch.
Đặc thù khi áp dụng vào thị trường Việt Nam
Phần lớn tài liệu về phân tích kỹ thuật được viết cho thị trường Mỹ. Bốn khác biệt dưới đây khiến việc bê nguyên các quy tắc đó sang Việt Nam dễ dẫn tới kết quả sai.
Biên độ dao động giá
Mỗi sàn có mức trần và sàn cho một phiên. Cơ chế này tạo ra hai hệ quả mà đồ thị thị trường không biên độ không có:
- Một cây nến chạm trần hoặc sàn không phản ánh hết áp lực thật. Lực mua hoặc bán còn lại bị dồn sang phiên sau, tạo ra hiện tượng nhiều phiên trần hoặc sàn liên tiếp.
- Các mẫu hình nến dựa trên biên độ dao động tự do, chẳng hạn nến có bóng rất dài, xuất hiện với tần suất khác so với thị trường không giới hạn biên độ.
Chu kỳ thanh toán
Vì cổ phiếu mua vào chưa về tài khoản ngay, bạn không thể mua và bán trong cùng một ngày. Toàn bộ nhóm chiến lược giao dịch trong ngày dựa trên phân tích kỹ thuật khung thời gian ngắn đều không áp dụng được với tài khoản cơ sở thông thường. Chi tiết cơ chế này nằm trong bài cách đọc bảng giá chứng khoán.
Cơ cấu nhà đầu tư
Giá trị giao dịch hàng ngày tại Việt Nam do nhà đầu tư cá nhân chi phối. Điều này làm cho các tín hiệu về tâm lý đám đông (khối lượng đột biến, phá vỡ vùng giá kèm hưng phấn) có sức nặng lớn hơn, nhưng đồng thời cũng nhiễu hơn. Tin đồn lan nhanh và tạo ra các cú vượt vùng giá không có nền tảng, dẫn tới nhiều tín hiệu giả hơn.
Thanh khoản phân hoá mạnh
Chênh lệch thanh khoản giữa nhóm vốn hoá lớn và nhóm vốn hoá nhỏ tại Việt Nam rất lớn. Với cổ phiếu ít giao dịch, đồ thị có thể bị định hình bởi một vài lệnh lớn. Khi đó "hành vi thị trường" mà bạn đang phân tích thực chất là hành vi của một người. Nguyên tắc thực hành: chỉ áp dụng phân tích kỹ thuật cho những mã có khối lượng giao dịch đủ đều đặn qua nhiều tháng.
Cách bắt đầu đúng
Nếu bạn mới tiếp cận phân tích kỹ thuật, thứ tự học có ảnh hưởng lớn tới kết quả:
- Đọc được cấu trúc giá trước. Nhận diện xu hướng, đỉnh đáy, vùng hỗ trợ kháng cự trên đồ thị trần, chưa dùng chỉ báo nào.
- Thêm khối lượng. Quan sát mối quan hệ giữa biến động giá và khối lượng qua nhiều tình huống thực tế.
- Chỉ thêm chỉ báo khi bạn trả lời được nó giúp gì. Nếu không nói được chỉ báo đó bổ sung thông tin gì so với những gì bạn đã thấy trên đồ thị, đừng dùng.
- Viết ra quy tắc vào lệnh và thoát lệnh trước khi giao dịch. Bao gồm cả điểm cắt lỗ. Quy tắc không được viết ra là quy tắc sẽ bị thay đổi ngay khi thị trường đi ngược ý bạn.
Các bài tiếp theo trong tuyến bài sẽ đi sâu vào từng công cụ, luôn kèm bối cảnh áp dụng cho thị trường Việt Nam.


