Hàng rào thương mại thường đến dưới dạng một con số phần trăm. Lần này nó đến dưới dạng một tờ giấy phép. Từ ngày 01/01/2026, Trung Quốc siết xuất khẩu thép bằng cách bắt mọi lô hàng thuộc khoảng 300 mã HS phải xin phép trước khi rời cảng.

Bài này dựa trên báo cáo ngành thép 2026 của Chứng khoán Vietcombank, công bố ngày 13/01/2026, đối chiếu với văn bản gốc của Bộ Thương mại Trung Quốc.

Thông báo 79 làm gì

Ngày 12/12/2025, Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan Trung Quốc ra Thông báo số 79 năm 2025, đưa khoảng 300 mã HS mười chữ số của ngành thép vào danh mục quản lý bằng giấy phép xuất khẩu. Danh mục phủ gần trọn chuỗi giá trị, từ nguyên liệu thô tới bán thành phẩm và thép thành phẩm.

Để được cấp phép, doanh nghiệp phải nộp hai thứ: hợp đồng xuất khẩu, và giấy chứng nhận kiểm định chất lượng sản phẩm do chính nhà sản xuất cấp. Quy định có hiệu lực từ 01/01/2026.

Hai điểm cần đọc kỹ ở đây.

Thứ nhất, đây không phải lệnh cấm. Không có mức trần sản lượng nào được công bố, không mã hàng nào bị đóng. Cái được dựng lên là một thủ tục, và thủ tục thì có độ trễ, có chi phí, có rủi ro bị từ chối.

Thứ hai, danh mục chi tiết tới mười chữ số. Mức chi tiết đó cho thấy mục tiêu quản lý toàn diện, không để lại kẽ hở cho việc khai sang mã hàng lân cận.

Trung Quốc từng quản lý xuất khẩu thép bằng giấy phép và đã bỏ cơ chế này từ năm 2009. Việc khôi phục sau mười sáu năm là lý do thị trường chú ý nhiều tới một văn bản vốn chỉ dài vài trang.

Vì sao Trung Quốc siết xuất khẩu thép giữa lúc đang xuất kỷ lục

Nghịch lý nằm ở chỗ chính sách siết lại rơi đúng vào năm xuất khẩu cao nhất lịch sử.

Lũy kế mười một tháng đầu năm 2025, Trung Quốc xuất 107,72 triệu tấn thép, tăng 6,7% so với cùng kỳ. VCBS ước tính cả năm 2025 cán mốc 115 tới 116 triệu tấn, vượt kỷ lục 112,4 triệu tấn lập năm 2015, đỉnh của cuộc khủng hoảng thừa thép toàn cầu khi đó.

Nhưng lượng tăng trong khi kim ngạch giảm. Nghĩa là đơn giá bình quân đi xuống, và phần tăng thêm chủ yếu đến từ phôi thép cùng thép xây dựng giá rẻ. Đó là mô tả của một cuộc đua hạ giá, và hệ quả của nó xuất hiện ở mọi thị trường nhập khẩu dưới dạng đơn kiện chống bán phá giá.

Cách đọc của VCBS: giấy phép cho phép cơ quan quản lý nhìn thấy giá trong hợp đồng trước khi hàng đi. Nếu mức giá thấp tới ngưỡng có nguy cơ bị kiện, hồ sơ có thể không được cấp phép. Cơ chế này vì thế hoạt động như một hạn ngạch mềm, và mục tiêu của nó là chuyển xuất khẩu từ lượng sang chất.

Đường truyền tới thị trường Việt Nam

Việt Nam là thị trường nhập thép Trung Quốc lớn nhất, nên mọi thay đổi ở đầu nguồn đều tới đây trước.

Dòng chảy này thực ra đã hẹp lại từ trước Thông báo 79. Theo tổng hợp của VCBS, lượng thép Trung Quốc vào Việt Nam năm 2025 giảm khoảng 25 tới 30%, nguyên nhân là các vụ kiện chống bán phá giá với thép cán nóng và tôn mạ. Ấn Độ giảm mạnh hơn, khoảng 34%, nhờ rào cản kỹ thuật BIS. Phần hàng đó dịch sang những thị trường khác: Ả Rập Xê Út tăng 41% nhờ nhu cầu từ siêu dự án NEOM.

Giấy phép cộng thêm vào bức tranh đó hai thứ mà bảng giá không hiện ra ngay: thời gian chờ thủ tục, và rủi ro một lô hàng đã ký hợp đồng nhưng không đi được. Cả hai đều là chi phí. Khi chi phí của hàng nhập tăng lên, khoảng cách giữa giá thép trong nước và giá thép nhập khẩu thu hẹp lại, và đó là toàn bộ cơ chế mà người bán hàng trong nước được hưởng.

Cần nói rõ giới hạn của lập luận này. Nó chỉ đúng chừng nào việc cấp phép thực sự chậm và thực sự khó. Một cơ chế cấp phép vận hành trơn tru trong vài tuần đầu sẽ khiến toàn bộ tác động trên biến mất.

Nội địa đang gánh phần hụt của xuất khẩu

Bối cảnh trong nước làm cho câu chuyện trên có trọng lượng hơn, vì ngành thép Việt Nam vừa trải qua một năm mà hai kênh bán hàng đi ngược chiều nhau rõ rệt.

Số liệu chín tháng đầu năm 2025 theo tổng hợp của VCBS:

Sản phẩm Tổng tiêu thụ Nội địa Xuất khẩu
Thép xây dựng 9,73 triệu tấn, tăng 11,8% 8,55 triệu tấn, tăng 18,6% 1,18 triệu tấn, giảm 21,2%
Thép cán nóng HRC gần 6 triệu tấn, tăng 17% 5,33 triệu tấn, tăng 65% 655 nghìn tấn, giảm 65%
Tôn mạ 3,65 triệu tấn, giảm 12% 2,37 triệu tấn, tăng 37% 1,28 triệu tấn, giảm 47%

Đọc bảng này theo hàng thì thấy một quy luật chung: kênh nội địa tăng hai chữ số ở cả ba nhóm sản phẩm, kênh xuất khẩu giảm hai chữ số ở cả ba. Riêng tôn mạ, mức tăng của nội địa không đủ bù phần hụt của xuất khẩu nên tổng tiêu thụ vẫn âm.

Hệ quả với từng doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ trọng hai kênh trong cơ cấu bán hàng của họ. Doanh nghiệp bán chủ yếu trong nước ít chịu tác động từ hàng rào bên ngoài hơn hẳn doanh nghiệp sống bằng xuất khẩu, và đó là lý do cùng một biến động thị trường lại cho ra những con số rất khác nhau ở HPG, HSG, NKGGDA.

Hai hàng rào nữa đang tới trong cùng năm

Thông báo 79 không đứng một mình. Năm 2026 có thêm hai thay đổi từ phía EU, và cả hai đều đánh vào kênh xuất khẩu.

Cơ chế CBAM có hiệu lực từ 01/01/2026. Nhà nhập khẩu thép vào EU phải mua và nộp chứng chỉ tương ứng với lượng phát thải gắn trong hàng hoá. Nghĩa vụ tài chính năm 2026 còn nhỏ, tương ứng khoảng 2,5% tổng phát thải, rồi tăng dần theo lộ trình. VCBS đánh giá rủi ro lớn nhất trong ngắn hạn không nằm ở tiền thuế mà nằm ở dữ liệu: thiếu báo cáo phát thải thực tế được bên thứ ba xác minh thì EU áp giá trị mặc định, vốn được đặt theo nhóm lò cao kém hiệu quả nhất.

Ở đây có một bất lợi mang tính hệ thống với hàng Việt Nam. Hệ số phát thải của lưới điện Việt Nam năm 2024 là 0,681 tCO2e mỗi MWh, cao hơn nhiều so với các đối thủ dùng nhiều điện tái tạo hoặc khí đốt. Với các dây chuyền cán nguội và mạ, phần phát thải gián tiếp từ điện chiếm tỷ trọng lớn, nên con số của lưới điện đi thẳng vào giá thành hàng xuất khẩu.

Hạn ngạch mới của EU dự kiến hiệu lực 01/07/2026. Biện pháp tự vệ hiện hành hết hạn ngày 30/06/2026, và dự thảo thay thế không phải một lần gia hạn. Tổng hạn ngạch miễn thuế dự kiến khoảng 18,3 triệu tấn, giảm 47% so với năm 2024. Thuế ngoài hạn ngạch tăng từ 25% lên 50%. Quy tắc xuất xứ "nấu luyện và đúc" buộc thép phải được nấu và đúc tại chính quốc gia xuất khẩu mới được hưởng hạn ngạch. Phần hạn ngạch không dùng hết của một quý cũng không còn được chuyển sang quý sau.

Việt Nam nằm trong nhóm hạn ngạch chung. Khi tổng hạn ngạch bé lại, các nước lớn lấp đầy phần chung rất nhanh, và hàng đến sau chịu mức thuế ngoài hạn ngạch.

Những gì báo cáo không nói chắc được

Phần này quan trọng hơn mọi con số ở trên, vì nó quyết định bạn tin những con số đó tới đâu.

Toàn bộ tác động của Thông báo 79 phụ thuộc vào cách nó được thực thi, mà điều đó chưa ai quan sát đủ lâu để kết luận. Văn bản trao quyền từ chối cấp phép, nhưng không nói cơ quan quản lý sẽ dùng quyền đó chặt tới mức nào.

Các dự báo trong báo cáo cũng đi kèm giả định. VCBS dự báo lợi nhuận toàn ngành thép tăng 22% trong năm 2026, và dự báo tổng cung thép thô toàn thị trường đạt 25 tới 26 triệu tấn nhờ dự án Dung Quất 2 hoàn thành cuối năm 2025. Cả hai con số đều giả định nhu cầu xây dựng giữ nhịp: giải ngân đầu tư công tới 31/12/2025 đạt 755 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 83% kế hoạch, và VCBS ước tính đầu tư hạ tầng giai đoạn tới thúc đẩy nhu cầu thép xây dựng nội địa tăng 5 tới 8% trong năm 2026. Giả định đó sai thì con số lợi nhuận sai theo.

Chiều nguyên liệu thì đang thuận. Giá quặng sắt cuối năm 2025 dao động 96 tới 102 USD một tấn và VCBS dự báo khoảng 93 USD cho năm 2026; than luyện cốc trung bình 215 tới 220 USD một tấn trong quý 4/2025, dự báo lùi về 180 tới 190 USD. Nhưng biên lợi nhuận của từng doanh nghiệp phụ thuộc vào công nghệ lò và cơ cấu nguyên liệu của riêng họ, nên một mức giá quặng chung không dịch thẳng thành lợi nhuận chung.

Thứ đáng mang về từ một báo cáo như thế này là cơ chế: hàng rào dựng ở đâu, ai trả chi phí, và khoản chi phí ấy đi vào giá thành theo đường nào.

Muốn đọc tiếp một doanh nghiệp cụ thể bằng chính báo cáo tài chính của họ, cách đọc dòng tiền của HAH là một ví dụ về việc lần theo một con số tới tận nơi nó sinh ra.