Một quý doanh thu tăng gần một phần tư mà lợi nhuận PVD giảm gần một phần ba. Đó là kết quả quý 2/2026 của Tổng công ty Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí, theo báo cáo cập nhật của TCBS Research ngày 07/08/2026.

Con số giảm không phải vì doanh nghiệp làm ăn kém đi. Nguyên nhân nằm ở một quy luật đúng với mọi doanh nghiệp nặng vốn đang mở rộng, và bài này đi vào chính quy luật đó. PV Drilling niêm yết trên HOSE với mã PVD.

Kết quả quý 2 nhìn từ bảng số

Số liệu theo báo cáo tài chính hợp nhất, trích trong báo cáo của TCBS, đơn vị tỷ đồng:

Chỉ tiêu

Q2/2026

Q2/2025

%YoY

Doanh thu thuần

3.028

2.447

+23,7

Giá vốn hàng bán

2.484

1.927

+28,9

Lợi nhuận gộp

544

520

+4,6

Chi phí lãi vay

111

47

+136,2

Lợi nhuận trước thuế

261

321

−18,7

Lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ

163

240

−32,2

EBITDA

627

499

+25,7

Mức 163 tỷ đồng là thấp nhất trong năm quý gần nhất. So với quý liền trước, lợi nhuận giảm 46,9%.

Đọc bảng này từ trên xuống sẽ thấy lợi nhuận bị bào ở nhiều tầng. Giá vốn tăng 28,9%, nhanh hơn doanh thu, khiến biên lợi nhuận gộp thu hẹp 3,3 điểm phần trăm về 18,0%. Sau đó chi phí lãi vay tăng thêm 64 tỷ. Kết quả là lợi nhuận gộp chỉ tăng 4,6% còn lợi nhuận sau thuế thì giảm mạnh.

Lợi nhuận PVD giảm nhưng vận hành không kém đi

Trước khi đi tìm nguyên nhân, cần loại trừ giả thuyết dễ nghĩ tới nhất.

EBITDA quý 2 đạt 627 tỷ đồng, tăng 25,7% và nhanh hơn cả tốc độ tăng doanh thu. Biên EBITDA 20,7%, nhỉnh hơn mức 20,4% cùng kỳ. Số giàn tự nâng sở hữu hoạt động bình quân tăng từ 3,67 lên 5,91 giàn, giàn thuê từ 1,25 lên 2,59. Doanh thu mảng khoan đi từ 1.354 lên 1.980 tỷ đồng, tăng 46%.

Hiệu suất đội giàn trên 99%, và tổng thời gian hợp đồng còn phải thực hiện là 4.015 ngày tính từ 30/6/2026.

Nói cách khác, doanh nghiệp chạy nhiều hơn và chạy tốt hơn. Phần sụt giảm nằm ở những khoản mục dưới dòng EBITDA, tức khấu hao, lãi vay và thuế.

Khoảng cách giữa hai dòng lợi nhuận

Đây là chỗ đáng nhìn nhất trong cả báo cáo, và cũng là cách đọc dùng lại được cho nhiều doanh nghiệp khác.

EBITDA là lợi nhuận trước khi trừ lãi vay, thuế và khấu hao. Lợi nhuận trước thuế là sau khi đã trừ hai khoản đầu. Khoảng cách giữa hai con số vì thế chính là phần lãi vay cộng khấu hao.

Kỳ

EBITDA

Lợi nhuận trước thuế

Khoảng cách

Q2/2025

499

321

178

Q2/2026

627

261

366

Hai cột chia hai phần, lợi nhuận trước thuế ở dưới và phần khấu hao cộng lãi vay ở trên, phần trên tăng từ 178 lên 366 tỷ đồng sau một năm
Cùng một cột EBITDA, phần bị khấu hao và lãi vay lấy đi nở hơn gấp đôi. Số liệu quý 2, theo TCBS Research

Khoảng cách nở hơn gấp đôi chỉ sau một năm. Toàn bộ nỗ lực vận hành nằm ở cột EBITDA, còn cái giá của việc mở rộng nằm ở cột khoảng cách.

Khi đọc một doanh nghiệp đang đầu tư mạnh, chỉ nhìn dòng lợi nhuận cuối cùng sẽ ra kết luận sai. Nhìn khoảng cách này thì thấy ngay phần nào là năng lực và phần nào là chi phí của tài sản mới.

Chi phí của một tài sản đến trước doanh thu của nó

Cơ chế đằng sau đơn giản hơn con số.

Doanh nghiệp mua một tài sản lớn để làm được nhiều việc hơn. Từ ngày tài sản đó được đưa vào sử dụng, hai khoản chi bắt đầu chạy ngay. Khấu hao, vì tài sản hao mòn theo thời gian dù có chạy hay không. Và lãi vay, vì phần lớn tiền mua tài sản là tiền đi vay.

Còn doanh thu thì phải chờ tài sản có việc để làm, và việc thì đến theo lịch hợp đồng chứ không đến ngay.

Trục thời gian của một tài sản lớn, băng chi phí bắt đầu ngay khi đưa vào sử dụng còn băng doanh thu chỉ bắt đầu khi hợp đồng đầu tiên chạy
Hai băng bắt đầu ở hai mốc khác nhau, khoảng giữa là quãng chỉ có chi phí

Ở trường hợp này, giàn tự nâng PV DRILLING IX chính thức vận hành từ tháng 4/2026, đưa tài sản cố định lên 16.655 tỷ đồng, tăng 2.187 tỷ chỉ trong một quý do kết chuyển chi phí xây dựng cơ bản dở dang. Nợ vay đi kèm là 5.474 tỷ đồng.

Ngoài khấu hao và lãi vay, PV Drilling giải trình thêm hai nguyên nhân: chi phí đầu vào tăng do xung đột địa chính trị tại Trung Đông, và nền so sánh quý 2/2025 có khoản thu nhập bảo hiểm liên quan giàn PV DRILLING VI mà quý này không còn.

Cơ chế "một khoản chi phí lớn đến trước, doanh thu đến sau" xuất hiện ở nhiều ngành với hình dạng khác nhau. Ở nhóm khu công nghiệp là thời điểm ghi nhận doanh thu thuê đất, xem kết quả kinh doanh IDC quý 2/2026. Ở nhóm khai khoáng là chu kỳ giá hàng hoá, xem mỏ vonfram Masan.

Đòn bẩy nhìn từ hai phía

Vay tiền mua tài sản thì phải nhìn sang khả năng trả nợ, và ở đây hai phía cho hai câu trả lời khác nhau. Cả hai đều đúng.

Phía đã tăng nhanh: tổng nợ vay 5.474 tỷ đồng, tăng 76,0% so cùng kỳ, trong đó vay dài hạn 4.350 tỷ. Tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu lên 31,1% từ mức 18,6%. Đáng chú ý nhất là khả năng trả lãi: lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của quý chỉ gấp 2,8 lần chi phí lãi vay, giảm từ 6,6 lần cùng kỳ và 6,5 lần ở quý 1.

Ba cột khả năng trả lãi theo quý, giữ quanh 6,5 lần ở hai kỳ đầu rồi rơi xuống 2,8 lần ở quý 2 năm 2026
Khả năng trả lãi theo quý. Số liệu theo TCBS Research

Phía vẫn trong ngưỡng: nợ vay bằng 2,2 lần EBITDA trượt bốn quý, và vốn chủ sở hữu vẫn chiếm 59,0% tổng tài sản.

Doanh nghiệp vẫn trả được lãi, nhưng biên độ để hụt đã hẹp hơn nhiều so với một năm trước. Và chu kỳ đầu tư chưa dừng: theo TCBS, ban lãnh đạo cho biết sau giàn thứ tám sẽ mua thêm hai giàn tự nâng trước năm 2030, với suất đầu tư mục tiêu 75 tới 80 triệu USD mỗi giàn.

Lãi trên giấy, tiền chưa về

Một chỗ nữa bảng lãi lỗ không nói.

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh quý 2 chỉ đạt 139 tỷ đồng so với 277 tỷ cùng kỳ. Lũy kế sáu tháng âm 151 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ 2025 dương 14 tỷ.

Dòng tiền kinh doanh sáu tháng đi từ dương 14 tỷ đồng năm trước xuống âm 151 tỷ đồng năm nay
Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh luỹ kế sáu tháng. Số liệu theo TCBS Research

Nguyên nhân là khoản phải thu ngắn hạn tăng lên 5.784 tỷ đồng, cao hơn 34,1% so cùng kỳ, tương đương khoảng 158 ngày doanh thu trượt bốn quý. Hàng tồn kho cũng tăng 22,1% lên 1.752 tỷ, điều hợp lý khi đội giàn chạy nhiều hơn.

Doanh nghiệp vẫn còn bộ đệm: tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn 2.797 tỷ đồng, hệ số thanh toán hiện hành 1,6 lần. Nhưng khoảng cách giữa lợi nhuận ghi nhận và tiền thực thu là thứ đáng theo dõi ở những quý tới.

Những gì chưa chắc chắn

Phần chắc chắn là nền việc: 4.015 ngày hợp đồng còn phải thực hiện, và không giàn nào phải nằm chờ việc tại thời điểm 30/6.

Phần chưa chắc nằm ở ba chỗ.

Giá thuê ngày khu vực đã quay đầu. Giá thuê giàn tự nâng bình quân tại Đông Nam Á quý 2 đạt 95.100 USD mỗi ngày, giảm 9% so cùng kỳ và 7% so quý trước, do khoan tại Trung Đông bị trì hoãn khiến nguồn cung giàn dư thừa dịch chuyển sang khu vực. Mức này chỉ ảnh hưởng khi tái ký chứ chưa chạm vào các hợp đồng đang chạy.

Lịch khoan quý 3 có khoảng hở. PV DRILLING IX hết hợp đồng tháng 7/2026 và hợp đồng kế tiếp chỉ khởi động tháng 10, còn PV DRILLING VI chờ sang tháng 8. Khấu hao vẫn phát sinh trong những ngày giàn không chạy.

Giàn thứ tám chưa tạo doanh thu tới quý 2/2027. PV Drilling nhận bàn giao ngày 28/7/2026, nhưng giàn phải tái khởi động qua hai giai đoạn tại Namibia rồi Việt Nam.

TCBS Research dự phóng cả năm 2026 doanh thu 13.512 tỷ đồng, tăng 24,0%, còn lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ 990 tỷ đồng, giảm 4,7%. Tức nghịch lý của quý 2 được dự báo lặp lại ở quy mô cả năm, dù mức độ nhẹ hơn.

Thứ mang về được

Doanh nghiệp nặng vốn nào cũng đi qua chu kỳ này. Mua tài sản để lớn lên thì chi phí tới trước, doanh thu tới sau, có khi sau cả năm.

Một quý lợi nhuận xấu ở giữa chu kỳ đầu tư vì thế chưa chắc nói lên năng lực kém. Cách đọc thực dụng là xem khoảng cách giữa EBITDA và lợi nhuận trước thuế đang nở ra hay đang co lại, rồi đối chiếu với lịch đưa tài sản mới vào khai thác.

Khoảng cách nở ra trong lúc tài sản mới chưa chạy hết công suất là điều bình thường. Khoảng cách vẫn nở khi tài sản đã chạy đủ mới là dấu hiệu cần hỏi thêm.