PV Drilling (PVD) ghi nhận doanh thu quý 2/2026 tăng 23,7% lên 3.028 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ giảm 32,2%, còn 163 tỷ đồng. Nguyên nhân chủ yếu đến từ giá vốn, khấu hao và chi phí lãi vay tăng mạnh trong giai đoạn doanh nghiệp mở rộng đội giàn. PV Drilling niêm yết trên HOSE với mã PVD.

Kết quả kinh doanh PVD quý 2/2026
Chỉ tiêu | Q2/2026 (tỷ) | Q2/2025 (tỷ) | %YoY |
|---|---|---|---|
Doanh thu thuần | 3.028 | 2.447 | +23,7 |
Giá vốn hàng bán | 2.484 | 1.927 | +28,9 |
Lợi nhuận gộp | 544 | 520 | +4,6 |
Chi phí lãi vay | 111 | 47 | +136,2 |
Lợi nhuận trước thuế | 261 | 321 | −18,7 |
Lợi nhuận sau thuế cổ đông mẹ | 163 | 240 | −32,2 |
EBITDA | 627 | 499 | +25,7 |
Lợi nhuận PVD quý 2 giảm mạnh nhưng không đồng nghĩa hoạt động kinh doanh cốt lõi suy yếu. EBITDA đạt 627 tỷ đồng, tăng 25,7%, cao hơn tốc độ tăng doanh thu.
Số giàn tự nâng sở hữu hoạt động bình quân tăng từ 3,67 lên 5,91 giàn, trong khi giàn thuê tăng từ 1,25 lên 2,59 giàn. Doanh thu mảng khoan tăng 46%, từ 1.354 tỷ lên 1.980 tỷ đồng. Hiệu suất đội giàn đạt trên 99%, với tổng thời gian hợp đồng còn lại 4.015 ngày tại ngày 30/6/2026.
Điều này cho thấy hiệu quả vận hành PVD vẫn được duy trì, trong khi áp lực chủ yếu nằm ở các khoản chi phí sau EBITDA.
Vì sao lợi nhuận PVD giảm mạnh?
Biên lợi nhuận gộp quý 2 giảm xuống 18,0% do giá vốn tăng 28,9%, nhanh hơn doanh thu. Chi phí lãi vay cũng tăng 136,2%, từ 47 tỷ lên 111 tỷ đồng.
Khoảng cách giữa EBITDA và lợi nhuận trước thuế vì vậy mở rộng đáng kể:
Kỳ | EBITDA | LNTT | Khoảng cách |
Q2/2025 | 499 tỷ | 321 tỷ | 178 tỷ |
Q2/2026 | 627 tỷ | 261 tỷ | 366 tỷ |
Khoảng cách này tăng hơn gấp đôi sau một năm, phản ánh tác động ngày càng lớn của khấu hao và chi phí lãi vay.
Đây là điểm quan trọng khi phân tích một doanh nghiệp có mức đầu tư tài sản lớn. EBITDA phản ánh tốt hơn năng lực tạo lợi nhuận từ hoạt động trước khi tính đến chi phí tài chính và khấu hao.
PVD chịu áp lực từ chu kỳ đầu tư
PV Drilling đang trong giai đoạn mở rộng đội giàn. PV DRILLING IX chính thức vận hành từ tháng 4/2026, khiến tài sản cố định tăng lên 16.655 tỷ đồng, cao hơn 2.187 tỷ đồng chỉ sau một quý.
Cùng với tài sản mới, doanh nghiệp phải ghi nhận khấu hao và lãi vay ngay khi tài sản được đưa vào sử dụng, trong khi doanh thu phụ thuộc vào thời điểm ký và triển khai hợp đồng.
Khoản vay của PVD đạt 5.474 tỷ đồng, tăng 76% so với cùng kỳ. Tỷ lệ nợ vay/vốn chủ sở hữu tăng lên 31,1%, từ 18,6%.
Khả năng trả lãi cũng giảm đáng kể. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh quý 2 chỉ cao gấp 2,8 lần chi phí lãi vay, so với 6,6 lần cùng kỳ và 6,5 lần trong quý 1.
Dù vậy, nợ vay hiện tương đương 2,2 lần EBITDA trượt bốn quý và vốn chủ sở hữu vẫn chiếm 59% tổng tài sản. Áp lực tài chính tăng nhưng chưa cho thấy mất cân đối rõ rệt.
Theo TCBS, ban lãnh đạo PVD dự kiến sau giàn thứ tám sẽ mua thêm hai giàn tự nâng trước năm 2030, với suất đầu tư mục tiêu 75-80 triệu USD mỗi giàn. Điều này đồng nghĩa chi phí đầu tư và đòn bẩy tài chính vẫn là yếu tố cần theo dõi trong các năm tới.
Ở nhóm khu công nghiệp là thời điểm ghi nhận doanh thu thuê đất, xem kết quả kinh doanh IDC quý 2/2026. Ở nhóm khai khoáng là chu kỳ giá hàng hoá, xem mỏ vonfram Masan.
Dòng tiền PVD chưa theo kịp lợi nhuận
Một điểm đáng chú ý khác nằm ở dòng tiền kinh doanh.
Quý 2/2026, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh chỉ đạt 139 tỷ đồng, giảm so với 277 tỷ đồng cùng kỳ. Lũy kế sáu tháng, dòng tiền kinh doanh âm 151 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm 2025 dương 14 tỷ đồng.
Khoản phải thu ngắn hạn tăng lên 5.784 tỷ đồng, cao hơn 34,1% so với cùng kỳ. Hàng tồn kho cũng tăng 22,1%, lên 1.752 tỷ đồng, phù hợp với quy mô hoạt động của đội giàn tăng lên.
PVD vẫn có bộ đệm thanh khoản với tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn 2.797 tỷ đồng, cùng hệ số thanh toán hiện hành 1,6 lần. Tuy nhiên, việc dòng tiền kinh doanh suy yếu là yếu tố nhà đầu tư nên tiếp tục theo dõi.
Triển vọng PVD phụ thuộc vào giá thuê giàn và lịch khoan
Nền tảng hợp đồng của PVD vẫn tương đối rõ khi tại ngày 30/6 không có giàn nào phải nằm chờ việc và tổng thời gian hợp đồng còn lại đạt 4.015 ngày.
Tuy nhiên, triển vọng ngắn hạn vẫn tồn tại một số yếu tố cần lưu ý.
Giá thuê giàn tự nâng tại Đông Nam Á trong quý 2 đạt khoảng 95.100 USD/ngày, giảm 9% so với cùng kỳ và 7% so với quý trước. Việc hoạt động khoan tại Trung Đông bị trì hoãn khiến một phần nguồn cung giàn dịch chuyển sang Đông Nam Á, tạo áp lực lên giá thuê khi tái ký hợp đồng.
Lịch hoạt động quý 3 cũng xuất hiện khoảng trống. PV DRILLING IX hết hợp đồng vào tháng 7/2026 và hợp đồng tiếp theo dự kiến bắt đầu từ tháng 10. PV DRILLING VI chờ đến tháng 8. Trong thời gian giàn không hoạt động, chi phí khấu hao vẫn được ghi nhận.
Trong khi đó, giàn thứ tám mới được bàn giao ngày 28/7/2026 và chưa đóng góp doanh thu trong quý 2. Giàn cần trải qua quá trình tái khởi động tại Namibia và Việt Nam trước khi đi vào khai thác.
Dự phóng lợi nhuận PVD năm 2026
Theo dự phóng của TCBS, doanh thu PVD năm 2026 đạt 13.512 tỷ đồng, tăng 24%, trong khi lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ đạt khoảng 990 tỷ đồng, giảm 4,7%.
Như vậy, nghịch lý của quý 2 có thể tiếp tục xuất hiện trong cả năm: doanh thu tăng nhưng lợi nhuận chịu sức ép bởi chi phí đầu tư, khấu hao và lãi vay.
Với PVD, nhà đầu tư không nên chỉ nhìn vào con số lợi nhuận cuối cùng. Quan trọng hơn là theo dõi EBITDA, hiệu suất khai thác đội giàn, giá thuê ngày, lịch hợp đồng, dòng tiền kinh doanh và mức độ sử dụng đòn bẩy.
Khi các giàn mới tăng công suất và bắt đầu đóng góp doanh thu đầy đủ, khả năng hấp thụ chi phí khấu hao và lãi vay sẽ là yếu tố quyết định liệu lợi nhuận PVD có quay lại quỹ đạo tăng trưởng hay không.


